vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH NHAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 19/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kiều Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cầm Thị Hồng Thanh

2. Bà Hoàng Thị Tỵ

Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án huyện Quỳnh Nhai.

Đại diện VKSND huyện Quỳnh Nhai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Máy

- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2021/TLST - HS ngày 22 tháng 11 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo.

Họ và tên: Tòng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/11/1993 tại xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Tòng Văn D, sinh năm 1975 và bà Tòng Thị N, sinh năm 1976; Bị cáo có vợ là Lường Thị T, sinh năm 1996 và có 01 con, sinh năm 2014. Đều trú tại: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/3/2017 Bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng (Bị cáo đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 24/3/2019).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 00 phút, ngày 21/10/2021. Tổ Công tác của đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện phối hợp với tổ công tác của đội cảnh sát hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện Quỳnh Nhai đang làm nhiệm vụ, đấu tranh phòng chống ma túy tại khu vực km 20 + 100 quốc lộ 6B thuộc địa phận bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La thì phát hiện một đối tượng đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 26K3 – 4333 về hướng trung tâm xã C có nhiều biểu hiện liên quan đến ma túy nên tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe. Qua dừng xe kiểm tra và giải thích đối tượng đã tự giác giao nộp 02 gói nilon màu trắng và khai nhận đó là Heroine đi mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người đến chứng kiến việc mở, kiểm tra đối với gói nilon trên và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định.

Ngày 21/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng có tổng khối lượng là 0,14 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1 thu giữ của T gửi giám định; Số chất bột màu hồng có khối lượng là 0,06 gam, lấy toàn bộ 0,06 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A2.

Tại Kết luận giám định số 1691/KLMT ngày 25/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy; Loại chất Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu A2 là ma túy; Loại chất Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 21/10/2021 T điều khiển xe máy BKS 26K3 - 4333 từ xã C về hướng trung tâm huyện Q để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đường thuộc bản N, xã C, T gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng cạnh đường nhìn giống người nghiện, T đi đến chỗ người đàn ông đó, qua trao đổi Toàn đã mua được 02 gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng gồm 01 gói Heroine và 01 gói Hồng phiến, T mua với giá 120.000 đồng. Trao đổi mua bán xong người đàn ông đó đi về hướng trung tâm huyện, còn T đi vào bụi cây gần đường trích lấy một phần nhỏ sử dụng bằng hình thức hít, phần còn lại Toàn gói lại như cũ, cầm ở tay phải rồi điều khiển xe quay về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày khi về đến khu vực Km 20 + 100 QL 6B thuộc địa phận bản Đ, xã C thì bị tổ công tác Công an huyện phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh về người đàn ông bán Heroine cho T (theo lời khai của bị cáo) không biết địa chỉ cụ thể, không xác định được danh tính, do vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-QN ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai truy tố bị cáo Tòng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Quỳnh Nhai phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với Tòng Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 16 (Mười sáu) đến 18 (Mười tám) tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS

Đề nghị tich thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước có ghi: 02 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau của phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005585.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE A; biển kiểm soát 26K3 -4333 thu giữ của Tòng Văn T. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản của ông Tòng Văn C, sinh năm 1946, trú tại bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La (Là ông nội T). T sử dụng đi mua ma túy ông C không biết, ngày 13/12/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai đã trả xe cho ông C quản lý sử dụng, cần chấp nhận.

Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Bị cáo Tòng Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên Tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với các căn cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ, Kết luận giám định “Tổng trọng lượng chất thu giữ được của T là 0,2 gam là ma túy; Loại chất Heroine, Loại chất Methamphetamine ”. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Tòng Văn T đã mua, cất giữ 0,2 gam ma túy, loại chất Heroine, Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân - bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét thấy: Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu vào ngày 24 tháng 3 năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La, thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân chứng tỏ bị cáo chưa thực sự ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội mới.

Từ sự phân tích trên hội đồng xét xử nhận thấy, cần có mức hình phạt tù tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, trọng lượng ma túy thu giữ của bị cáo; xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo

- Để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý ở địa phương.

Về hình phạt bổ sung - phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Xét thấy, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có tài sản giá trị lớn, thu nhập chính của bị cáo từ trồng trọt. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung

- phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước có ghi: 02 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau của phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005585.

Hội đồng xét xử xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy là phù hợp với điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE A; biển kiểm soát 26K3 -4333 thu giữ của Tòng Văn T. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản của ông Tòng Văn C, sinh năm 1946, trú tại bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La (Là ông nội T). T sử dụng đi mua ma túy ông C không biết, ngày 13/12/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai đã trả xe cho ông C quản lý sử dụng.

Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Tòng Văn T vào ngày 20/9/2021, tại khu vực bản K, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La. Bị cáo không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Việc trao đổi mua ma túy diễn ra trên đường, không có người làm chứng, ngoài lời khai của bị cáo ra không còn nguồn tài liệu chứng cứ khác. Do đó không đủ cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Về án phí: Bị cáo Tòng Văn T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật (Gia đình của bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo có giấy xác nhận của UBND xã C, huyện Q).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tich thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước có ghi: 02 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau của phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005585.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 15/2022 ngày 22/12/2021 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La)

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án - Bị cáo Tòng Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/01/2022./.

Cỡ chữ