- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn Khiêu cùng đồng phạm - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 232 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày: 25/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC SƠN - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pơ Loong Đếch
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Đình Hương
+ Ông Ngô Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Đờ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022; tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2022/TLST-HS, ngày 15/7/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HS, ngày 9/8/2022 đối với các bị cáo:
HỒ VĂN K; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 27/9/1982; tại: Phước Sơn, Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Mù chữ; dân tộc: Gié Triêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Nhất (1946) và con bà Hồ Thị Ruông (chết); vợ Hồ Thị Luận (1984), có 04 con, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: Ngày 31/5/2017, bị Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và ngày 13/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo Hồ Văn K phải chấp hành 4 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2021; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/3/2022 và tạm giam ngày 26/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
HỒ VĂN TH; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 01/01/1975; tại: Phước Sơn, Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Gié Triêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Chôn (1947) và con bà Hồ Thị Ngoi (chết); vợ Hồ Thị Phượng (1986); có 02 con, con nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 9 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/3/2022 và tạm giam ngày 17/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
* Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ trụ sở: Thôn Lao Mưng, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện theo pháp luật: Ông A Lăng Ngọc –Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn B - Phó giám đốc (Văn bản ủy quyền ngày 24/8/2022); có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hồ Văn Mỹ; sinh ngày: 24/7/2006; trú tại: Tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt.
- Hồ Thanh Dương; sinh ngày: 21/7/2006; trú tại: Tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; có mặt.
Người giám hộ cho Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương: Ông Nguyễn Quang Tính – Phó Bí thư Huyện Đoàn huyện Phước Sơn; có mặt.
- Ông Thiều Văn Bảy; trú tại: Tổ dân phố số 4, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt.
- Ông Hồ Văn Khoa; trú tại: Tổ dân phố số 1, thị trấn K, huyện P, tỉnh Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 3/2022, Hồ Văn K và Hồ Văn TH rủ nhau vào bãi Đà Lạt, thuộc xã Phước Kim, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam để khai thác gỗ bán lấy tiền chia nhau; Hồ Văn K thuê Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương đi làm công mỗi ngày trả 300.000 đồng. Sáng ngày 9/3/2022, Hồ Văn TH và Hồ Văn Mỹ vào rừng trước mang theo xăng, nhớt do Hồ Văn K chuẩn bị, Hồ Văn TH dùng cưa máy do Hồ Văn K cất giấu trong rừng cưa hạ 01 cây gỗ Sơn Huyết còn đứng sống; đến trưa ngày 10/3/2022 Hồ Văn K và Hồ Thanh Dương vào rừng. Chiều cùng ngày, Hồ Văn K, Hồ Văn TH đến vị trí cây gỗ Sơn Huyết đã bị ngã do trốc gốc cưa xẻ được 04 thanh khung ngoại, sau đó tiếp tục cưa xẻ cây gỗ mà Hồ Văn TH đã cưa hạ xẻ được 05 thanh khung ngoại và 01 khúc gỗ làm lục bình. Sáng ngày 11/3/2022, Hồ Văn K, Hồ Văn TH, Hồ Thanh Dương và Hồ Văn Mỹ vận chuyển gỗ đã xẻ đến khu vực mép lòng hồ thủy điện ĐăkMi 4 cất giấu. Hồ Văn K phân công Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương xuống gần bờ sông canh gác nếu phát hiện lực lượng bảo vệ rừng thì báo để cùng bỏ chạy, còn Hồ Văn K và Hồ Văn TH cưa hạ 01 cây gỗ Sơn Huyết. Đến sáng ngày 12/3/2022, Hồ Văn K thuê Thiều Văn Bảy dùng ghe chở 09 thanh khung ngoại đã cưa xẻ nhưng ông Thiều Văn Bảy thấy gỗ mới nên không nhận chở. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Hồ Văn K phân công Hồ Thanh Dương và Hồ Văn Mỹ canh gác lực lượng bảo vệ rừng, còn Hồ Văn K và Hồ Văn TH cưa xẻ 01 cây gỗ Sơn Huyết đã ngã trốc gốc và cưa hạ 01 cây Sơn Huyết còn đứng sống, khi đang cưa xẻ thì bị lực lượng bảo vệ rừng huyện Phước Sơn phát hiện nên bỏ chạy và để lại máy cưa tại hiện trường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: 05 cây gỗ mà Hồ Văn K và Hồ Văn TH cưa hạ, xẻ trái phép thuộc chủng loại gỗ Sơn Huyết (nhóm I) thuộc loại thực vật thông thường, tổng khối lượng 18,191m3 gỗ tròn. Vị trí 05 cây gỗ Sơn Huyết tại khoảnh 6, 7 thuộc tiểu khu 687 được quy hoạch là rừng phòng hộ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐG, ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phước Sơn kết luận: Giá trị thiệt hại khối lượng gỗ tại khoảnh 6, 7 tiểu khu 687 thuộc xã Phước Kim, huyện Phước Sơn là tang vật vụ án vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, có khối lượng 18,191m3 gỗ tròn Sơn Huyết nhóm I, xảy ra ngày 13/3/2022, có giá 118.241.500 đồng.
Tang vật thu giữ: 01 máy cưa lốc hiệu STIHL, màu đỏ trắng, có gắn lam và xích và 01 lóng gỗ Sơn Huyết hình trụ đa giác có khối lượng 0,112m3 gỗ tròn.
Tại cáo trạng số 09/CT-VKSPS-HS, ngày 12/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Hồ Văn K về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm d, m, o khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Hồ Văn TH về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm d, m khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khai nhận:
Bị cáo Hồ Văn TH khai nhận: Trong tháng 3/2022, Hồ Văn K và bị cáo rủ nhau vào bãi Đà Lạt khai thác gỗ để bán kiếm tiền chia nhau. Các bị cáo đã cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết và đã xẻ được 09 thanh khung ngoại. Hồ Văn K là người phân công nhiệm vụ cho bị cáo trực tiếp cưa hạ cây gỗ, khi xẻ thì thay phiên nhau xẻ gỗ, Hồ Văn K là người đưa ra quy cách xẻ gỗ. Hồ Văn K là người gọi Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương đi phụ giúp kéo gỗ và phân công canh gác lực lượng chức năng; khi đang xẻ gỗ thì bị lực lượng bảo vệ rừng phát hiện nên bỏ chạy. Cưa máy, xăng, nhớt, đồ ăn do Hồ Văn K chuẩn bị, bị cáo không biết Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương bao nhiêu tuổi. Người cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết tại khu vực bãi Đà Lạt chính là bị cáo với Hồ Văn K; trong quá trình điều tra, truy tố không bị đánh đập, không bị ép cung, bị cáo không nhận tội thay cho ai, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Bị cáo Hồ Văn K khai nhận: Lời khai của Hồ Văn TH là đúng. Trong tháng 3/2022, bị cáo với Hồ Văn TH bàn nhau vào bãi Đà Lạt thuộc xã Phước Kim, huyện Phước Sơn khai thác gỗ bán kiếm tiền, bị cáo gọi Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương đi phụ giúp mỗi ngày trả tiền công 300.000 đồng. Các bị cáo đã cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết, Hồ Văn TH là người trực tiếp dùng cưa máy cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ; khi xẻ thì thay phiên nhau xẻ gỗ. Còn Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương phụ giúp kéo gỗ và canh gác nếu phát hiện lực lượng chức năng thì báo để bỏ chạy. Khi đang xẻ gỗ thì bị lực lượng bảo vệ rừng phát hiện nên bỏ chạy, cưa máy bị cáo mượn của Hồ Văn Khoa, việc bị cáo dùng đi cưa hạ xẻ gỗ trái phép Hồ Văn Khoa không biết. Bị cáo là người chuẩn bị cưa máy, xăng, nhớt, đồ ăn và đưa ra quy cách xẻ gỗ, là người phân công nhiệm vụ cho Hồ Văn TH trực tiếp dùng cưa máy cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ; Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương do bị cáo gọi đi phụ giúp để trả tiền công và phân công canh gác lực lượng chức năng. Mục đích bị cáo với TH khai thác gỗ là để bán kiếm tiền chia nhau; bị cáo chưa trả tiền công cho Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương, bị cáo không biết Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương bao nhiêu tuổi. Người đã cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết tại khu vực bãi Đà Lạt chính bị cáo với Hồ Văn TH, trong quá trình điều tra, truy tố không bị đánh đập, không bị ép cung, bị cáo không nhận tội thay cho ai, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Hồ Thanh Dương khai: Chú Hồ Văn K là người gọi cháu đi phụ giúp một ngày trả tiền công 300.000 đồng. Chú Hồ Văn TH và Hồ Văn K đã cưa hạ 05 cây gỗ, chú Hồ Văn K phân công cháu với Mỹ kéo gỗ xẻ và canh gác nếu phát hiện cán bộ bảo vệ rừng thì báo để bỏ chạy. Khi xẻ gỗ thấy chú TH và chú K cùng xẻ, chú K chưa trả tiền công cho cháu.
Đại diện của nguyên đơn dân sự ông Nguyễn Tấn B khai: Các bị cáo đã cưa hạ 05 cây gỗ Sơn Huyết có khối lượng 18,191m3 gỗ tròn thuộc loại gỗ thông thường. Vị trí 05 cây gỗ các bị cáo cưa hạ, xẻ tại khoảnh 6, 7 tiểu khu 687 thuộc xã Phước Kim, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam được quy hoạch là rừng phòng hộ, do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn quản lý, bảo vệ. Hiện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn đang quản lý, bảo vệ 15,813m3 gỗ tròn Sơn Huyết. Yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại về gỗ theo định giá.
Luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa. Xét thấy trong tháng 3/2022, các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH đã dùng cưa máy cưa hạ, xẻ trái phép 05 cây gỗ Sơn Huyết (nhóm I) thuộc loại gỗ thông thường tại khoảnh 6, 7 tiểu khu 687 được quy hoạch là rừng phòng hộ gây thiệt hại 18,191m3 gỗ tròn có giá 118.241.500 đồng. Xét thấy hành vi khai thác gỗ trái phép của các bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm d khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trước khi khai thác gỗ trái phép giữa các bị cáo có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, cụ thể bị cáo Hồ Văn K phân công bị cáo Hồ Văn TH trực tiếp cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết, đưa ra quy cách xẻ gỗ thành khung ngoại và phân công Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương kéo gỗ xẻ, canh gác lực lượng bảo vệ rừng nên hành vi phạm tội của các bị cáo có “Tổ chức” quy định tại điểm m khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị cáo Hồ Văn K là người khởi xướng cưa hạ, xẻ gỗ trái phép, là người chuẩn bị máy cưa, xăng, nhớt, đồ ăn; bị cáo Hồ Văn TH là người trực tiếp cưa hạ, xẻ gỗ. Mục đích các bị cáo cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết là để bán kiếm tiền chia nhau, bị cáo Hồ Văn K là người gọi Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương đi phụ giúp kéo gỗ ngày trả tiền công 300.000 đồng.
Xét nhân thân: Bị cáo Hồ Văn K chưa có tiền sự, người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, đã nộp bồi thường trước thiệt hại về gỗ 5.000.000 đồng, có cha là bệnh binh nên được xem là tình tiết giảm nhẹ. Tình tiết tăng nặng: Ngày 31/5/2017, bị Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và ngày 13/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo Hồ Văn K phải chấp hành 4 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2021 chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Hồ Văn TH chưa có tiền án, tiền sự; người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; gia đình có công với cách mạng, đã nộp bồi thường trước thiệt hại về gỗ 5.000.000 đồng nên được xem là tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng. Nhân thân: Ngày 30/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn xử phạt 9 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã được xóa án tích.
Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm d, m, o khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Văn K từ: 3 năm 6 tháng – 4 năm tù.
Căn cứ điểm d, m khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hồ Văn TH từ: 2 năm 6 tháng – 3 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH đều không có việc làm và thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo nên không đề nghị phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585,589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phải liên đới bồi thường thiệt hại 18,191m3 gỗ tròn Sơn Huyết cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn với số tiền 118.241.500 đồng nhưng được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng các bị cáo đã nộp bồi thường trước; các bị cáo còn phải bồi thường 108.241.500 đồng.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Trả cho ông Hồ Văn Khoa là chủ sở hữu 01 máy cưa lốc hiệu STIHL, màu đỏ trắng, có gắn lam và xích (không rõ chất lượng); tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 lóng gỗ Sơn Huyết hình trụ đa giác có khối lượng 0,112m3 gỗ tròn Sơn Huyết và 15,813m3 gỗ tròn Sơn Huyết.
Đối với Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương, khi tham gia kéo gỗ và canh gác lực lượng chức năng theo sự phân công của bị cáo Hồ Văn K. Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự nên không đề cập đến việc xử lý hình sự.
Đối với ông Thiều Văn Bảy được bị cáo Hồ Văn K thuê chở 08 cục gỗ rục, Cơ quan điều tra Công an huyện Phước Sơn đã truy tìm 08 cục gỗ rục nhưng không có kết quả nên không có cơ sở để xử lý về hành vi vận chuyển gỗ trái phép nên không đề cập.
Các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH không tranh luận gì, nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện nguyên đơn dân sự yêu cầu các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phải bồi thường thiệt hại về lâm sản theo định giá. Ngoài ra, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thanh Dương không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH không có ý kiến hoặc khiếu nại. Nên các hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH đều nhận thức và biết rõ hành vi khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật và biết sẽ bị pháp luật xử lý. Thế nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi cưa hạ, xẻ trái phép 05 cây gỗ Sơn Huyết (nhóm I) thuộc loại gỗ thông thường tại khoảnh 6, 7 tiểu khu 687 thuộc xã Phước Kim, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam được quy hoạch là rừng phòng hộ, gây thiệt hại về gỗ 18,191m3 gỗ tròn.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết qủa khám nghiệm hiện trường; xác định loại gỗ, khối lượng gỗ bị thiệt hại; xác định loại rừng; kết luận định giá tài sản; luận tội của kiểm sát viên và lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ được chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi khai thác trái phép 05 cây gỗ Sơn Huyết (nhóm I) thuộc loại gỗ thông thường tại khoảnh 6, 7 tiểu khu 687 thuộc xã Phước Kim, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Hồ Văn K theo điểm d, m, o khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Hồ Văn TH theo điểm d, m khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Hành vi cưa hạ, xẻ trái phép 05 cây gỗ Sơn Huyết có khối lượng 18,191m3 gỗ tròn của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng; mục đích, động cơ khai thác trái phép 05 cây gỗ Sơn Huyết của các bị cáo là nhằm bán kiếm tiền bất hợp pháp. Xét thấy trước khi khai thác gỗ trái phép giữa các bị cáo có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ; cụ thể bị cáo Hồ Văn K phân công bị cáo Hồ Văn TH trực tiếp cưa hạ, xẻ gỗ; phân công Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương canh gác lực lượng chức năng nên hành vi phạm tội của các bị cáo có “Tổ chức”. Bị cáo Hồ Văn K là người đưa ra quy cách xẻ gỗ; bị cáo Hồ Văn TH là người trực tiếp dùng cưa máy cưa hạ, xẻ 05 cây gỗ Sơn Huyết. Bị cáo Hồ Văn K đã bị xét xử về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” lẻ ra phải lấy đó làm bài học, biết ăn năn hối cải thế nhưng bị cáo vẫn tiếp tục khai thác gỗ trái phép. Xét thấy cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội để tự cải tạo, giáo dục.
Xét nhân thân: Bị cáo Hồ Văn K chưa có tiền sự; người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, đã nộp bồi thường trước thiệt hại về gỗ 5.000.000 đồng; đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt, cha là bệnh binh nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Ngày 31/5/2017, bị Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạt tội mà có” và ngày 13/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo Hồ Văn K phải chấp hành 4 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2021 chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Hồ Văn TH chưa có tiền án, tiền sự; người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo; đã nộp bồi thường trước thiệt hại về gỗ 5.000.000 đồng, gia đình có công với cách mạng; đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ nên được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng. Nhân thân: Ngày 30/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 9 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 8/10/2014 nên đã được xóa án tích.
Đối với Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương, khi tham gia kéo gỗ xẻ cho các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH để được trả tiền công. Hồ Văn Mỹ và Hồ Thanh Dương chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự nên không đề cập đến việc xử lý hình sự.
Đối với ông Thiều Văn Bảy được bị cáo Hồ Văn K thuê chở 08 cục gỗ rục, Cơ quan Điều tra Công an huyện Phước Sơn đã truy tìm nhưng không có kết quả nên không có cơ sở xử lý về hành vi vận chuyển gỗ trái phép nên không đề cập.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH không có việc làm và thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 587, 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phải liên đới bồi thường thiệt hại về gỗ cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn với số tiền 118.241.500 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp khắc phục trước 10.000.000 đồng, các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH còn phải tiếp tục bồi thường 108.241.500 đồng (trong đó mỗi bị cáo còn phải bồi thường 54.120.750 đồng).
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 lóng gỗ Sơn Huyết hình trụ đa giác có khối lượng 0,112m3 gỗ tròn và 15,813m3 gỗ tròn Sơn Huyết; trả lại cho ông Hồ Văn Khoa là chủ sở hữu 01 máy cưa lốc hiệu STIHL, màu đỏ trắng, có gắn lam và xích (không rõ chất lượng).
Án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, có đơn xin miễn nộp. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”
Căn cứ điểm d, m, o khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
HỒ VĂN K: 3 (ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 17/3/2022.
Căn cứ điểm d, m khoản 2 Điều 232; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:
HỒ VĂN TH: 2 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 14/3/2022.
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 587; 589 Bộ luật dân sự tuyên buộc các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phải liên đới bồi thường thiệt hại về gỗ cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn với số tiền 118.241.500 đồng (một trăm mười tám triệu, hai trăm bốn mươi mốt ngàn, năm trăm đồng). Nhưng được trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp khắc phục trước thiệt hại về gỗ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH còn phải tiếp tục bồi thường 108.241.500 đồng (một trăm lẻ tám triệu, hai trăm bốn mươi mốt ngàn, năm trăm đồng). Trong đó mỗi bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH phải bồi thường 54.120.750 đồng (năm mươi bốn triệu, một trăm hai mươi ngàn, bảy trăm năm mươi đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, nếu các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH không thi hành số tiền của bản án sơ thẩm đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất phát sinh được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
Trả cho ông Hồ Văn Khoa 01 (một) máy cưa lốc hiệu STIHL, màu đỏ trắng, có gắn lam và xích, không rõ chất lượng (hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành dân sự huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 12/7/2022).
Tuyên giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) là số tiền do các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH nộp bồi thường thiệt hại về gỗ (hiện đang tạm gửi vào tại khoản số 4213203000010 của Công an huyện Phước Sơn tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam).
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) lóng gỗ Sơn Huyết hình trụ đa giác, dài 1,24m, đường kính trung bình 34cm, có khối lượng 0,112m3 (hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 12/7/2022) và 15,813m3 gỗ tròn Sơn Huyết (hiện do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn đang quản lý, bảo vệ theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 14/3/2022).
Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm các bị cáo Hồ Văn K và Hồ Văn TH được miễn nộp.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án”.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |