vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 08/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

an huyện N trưng cầu Hội đồng thẩm định kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ tỉnh Bắc Kạn giám định an toàn kỹ thuật của xe ô tô BKS 20C-071.xx và xe mô tô BKS 97B1-003.xx.

Tại biên bản giám định kỹ thuật xe ô tô BKS 20C-071.xx ngày 26/01/2022 kết luận: “Tại thời điểm kiểm tra hệ thống an toàn của xe như hệ thống phanh, hệ thống lái còn hoạt động tốt; hệ thống đèn còn đầy đủ, còn sáng, còi điện còn hoạt động tốt.

Tại thời điểm xảy ra tai nạn ngày 31/12/2021, thời hạn giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện cơ giới đường bộ số KC-4575111 không còn hiệu lực, không đủ điều kiện để lưu hành (Có hiệu lực đến hết ngày 28/6/2018)”.

Tại biên bản giám định kỹ thuật xe mô tô BKS 97B1 – 003.xx ngày 26/01/2022 kết luận: “Tại thời điểm kiểm tra hệ thống an toàn của xe như: Hệ thống phanh chân tác động bánh xe phía sau còn đầy đủ; còi điện, động cơ còn đầy đủ, nhưng không kiểm tra được hoạt động; một số hệ thống khác hư hỏng theo nội dung kiểm tra xe thực tế ở trên”.

Kết quả giám định các mảnh vỡ nhựa: Ngày 16/02/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an giám định các mảnh vỡ nhựa thu giữ tại vị trí xe mô tô BKS 97B1-003.xx nằm đổ nghiêng tại hiện trường và các mảnh vỡ nhựa bám dính trên xe ô tô BKS 20C-071.xx thu giữ khi khám nghiệm hiện trường. Tại bản kết luận giám định số 973/KL-KTHS ngày 08/3/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận các mảnh vỡ thu giữ ở hai vị trí trên cùng loại.

Kết quả định giá tài sản bị thiệt hại: Ngày 22/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện N yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N định giá giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô 97B1-003.xx tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại văn bản số 04 ngày 08/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N trả lời: “Hội đồng kết luận không định giá được tài sản nêu trên với các lý do: Tài sản nêu trên đã hết giá trị hao mòn; Hội đồng không khảo sát được giá của các loại tài sản với những thông tin và đặc điểm nêu trong yêu cầu định giá”.

Kết quả giám định nguyên nhân tử vong: Ngày 31/12/202, Cơ quan CSĐT Công an huyện N trưng cầu giám định viên pháp y Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định nguyên nhân tử vong của ông Dương Văn T1. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 01/KTHS-PY ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Nạn nhân Dương Văn T1, sinh năm 19xx, trú tại thôn P, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn bị sốc không phục hồi sau đa chấn thương mạnh vùng mặt gây vỡ xương hộp sọ, gẫy sập xương sống mũi, vỡ xương gò má hai bên, gẫy xương hàm trên và xương hàm dưới; chấn thương vùng ngực làm gẫy xương sườn số 02, 03, 04 dẫn đến tử vong”.

Quá trình điều tra, truy tố, bị can Nông Văn T đã khai nhận trước khi xảy ra tai nạn khoảng 02 đến 03 ngày bị can có uống rượu ngâm cây anh túc tại nhà của bị can. Tại biên làm việc lập ngày 22/02/2022, Công an xã C trả lời: Nông Văn T không nằm trong danh sách người nghiện và tại Phiếu xét nghiệm lập ngày 29/7/2022 của Trung tâm y tế huyện N kết luận: Nông Văn T âm tính với Opitate, Amphetamin, Methamphetamin, Marijuana. Lời khai nhận của bị can trong giai đoạn điều tra, truy tố là thống nhất với nhau và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị can xuất phát từ việc bị can không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều khiển xe ô tô trong tình trạng trong cơ thể có chất Morphine) và do bị can chủ quan, trước khi cho xe chuyển hướng mặc dù quan sát thấy phía trước đang có xe đi ngược chiều đến nhưng bị can không nhường đường mà vẫn điều khiển xe chuyển hướng dẫn đến gây tai nạn khiến ông Dương Văn T1 chết. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tổng số tiền 110.000.000,đ cho gia đình của người bị hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ TNHS; sau khi xảy ra vụ va chạm, bị can đã đến Công an huyện N để đầu thú.

Về vật chứng của vụ án:

+ 01 xe ô tô BKS 20C-071.xx;

+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe Nông Văn T5, biển số đăng ký 20C-071.xx.

+ 01 giấy phép lái xe, họ tên Nông Văn T, hạng C.

+ 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; biển đăng ký 20C-071.xx có hiệu lực đến hết ngày 28/6/2018.

+ 01 giấy bán, cho, tặng xe ô tô lập ngày 28/12/2017 của bà Vũ Thị H3.

+ 01 xe mô tô BKS 97B1-003.xx.

+ 01 mũ bảo hiểm,loại nửa đầu;

+ 01 mũ nhựa.

+ 01 đăng ký mô tô, xe máy, tên chủ xe Lý Văn T3; biển số đăng ký 97B1-003.

+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1.

+ 01 phong bì niêm phong, trên mép dán có 02 chữ ký của Ma Đình Huyến và Ng.T.Thúy.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Văn Q là người đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà L, anh H, anh T2 yêu cầu bị can phải bồi thường các khoản tiền mai táng phí, bù đắp tổn thất về tinh thần và thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 97B1-003.xx với tổng số tiền 110.000.000,đ. Đến nay, Nông Văn T đã bồi thường xong; những người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKS-NR ngày 10/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử Nông Văn T về "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015).

Tại phiên tòa, Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của T tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố. Ngoài ra T còn trình bày: Giữa T với gia đình bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau. Việc xảy ra va chạm giao thông dẫn đến chết người là do T điều khiển xe ô tô chuyển hướng không nhường đường cho xe đi ngược chiều. Tại điểm xảy ra va chạm thì trời đã choạng vạng tối và mặc dù trước khi điều khiển cho xe ô tô chuyển hướng T có phát hiện có người điều khiển xe mô tô đi ngược chiều đang điều khiển mô tô đi đến gần, nhưng do chủ quan cho rằng sẽ không xảy ra va chạm. Sau khi xảy ra sự việc thì T đã dừng xe kiểm tra sự việc và thông báo cho chị D nhờ chị Duyến và anh H2 đến giải quyết giúp. Nhận thức được lỗi và trách nhiệm của bản thân nên sáng hôm sau T đã đến Công an huyện N đầu thú khai nhận hành vi của mình, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để khai báo, cùng với gia đình nạn nhân để lo hậu sự cho nạn nhân, bồi thường khắc phục hậu quả cho các khoản thiệt hại về mai táng phí, tổn thất về tinh thần và tài sản. Bản thân T đã bồi thường xong trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên. Số tiền T đã bồi thường cho gia đình bị hại là do vợ chồng T vay mượn của anh Nông Văn H2. Đối với số tiền vay của anh H2, vợ chồng T cùng có trách nhiệm trả cho anh H2 và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chiếc xe ô tô BKS 20C-071.xx là tài sản chung của T với chị H nên đề nghị được xin lại chiếc xe ô tô và cam kết chấp hành đúng quy định của pháp luật khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông. Chiếc xe ô tô của gia đình T là ô tô tải 950kg được gia đình tiết kiệm mua về phục vụ cho gia đình là chủ yếu và thỉnh thoảng hộ bà con trong thôn xóm. Đối với chiếc xe mô tô của bị hại, do đã hư hỏng hoàn toàn, đại diện bị hại không có yêu cầu lấy lại, đề nghị Tòa án tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, T không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng của điều tra viên, cơ quan điều tra; kiểm sát viên, cơ quan Viện kiểm sát. Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, Nông Văn T xin được xem xét được cải tạo tại địa phương.

Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa – Anh Dương Văn Q trình bày: Anh là con trai của bị hại và anh là người đại diện theo ủy quyền của bà Nông Thị L; anh Dương Văn H; em Dương Văn T2 tham gia tố tụng. Nay tại phiên tòa anh nhất trí với nội dung của bản cáo trạng đã nêu. Ngoài ra anh còn trình bày: Anh và mẹ anh, các anh, em anh không có mâu thuẫn gì với Nông Văn T. Anh Nông Văn T đã bồi thường xong cho gia đình anh các khoản: Tiền mai táng phí, tổn thất về tinh thần và tài sản là chiếc xe mô tô (Thiệt hại về tính mạng và tài sản) nên gia đình anh không còn yêu cầu anh Nông Văn T phải bồi thường thêm khoản nào khác nữa; đối với chiếc xe mô tô BKS 97B1-003.xx đã hỏng hiện đang bị tạm giữ thì anh và gia đình anh không yêu cầu lấy lại chỉ yêu cầu lấy lại 02 chiếc mũ bảo hiểm của bố anh cùng giấy đăng ký xe mô tô. Sự việc đã xảy ra không ai mong muốn, nên gia đình anh cùng có ý kiến đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ TNHS, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Ngoài ra anh và gia đình anh không còn có ý kiến gì khác.

Bà Nông Thị L, anh Dương Văn T2, anh Dương Văn H có mặt tại phiên tòa nhất trí giữ nguyên người đại diện theo ủy quyền cho họ; nhất trí với lời trình bày trên của anh Quang và không bổ sung thêm ý kiến gì khác.

Tại Biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa - Chị Nông Thị H, là vợ của Nông Văn T trình bày: Chiếc xe ô tô là tài sản chung của gia đình. Anh T hàng ngày hay lái xe đi làm. Chị biết thông tin anh T lái xe gây tai nạn qua chị Hoàng Thị D. Còn tại nhà chị thì có bình rượu ngâm cây anh túc do anh T lấy về từ thời gian nào chị không rõ, hiện nay anh T đã đổ bỏ đi. Đối với số tiền anh T đã sử dụng để bồi thường cho gia đình bị hại được vợ chồng chị vay mượn của anh H2 nên vợ chồng chị có trách nhiệm trả cho anh H2 và không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ hoàn trả của vợ chồng chị cho anh H2.

Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, anh Nông Văn H2 trình bày: Chị D là vợ anh nhưng do chị D có việc nhà không đến tham gia phiên tòa được. Anh H2 công nhận các tình tiết của vụ án liên quan đến anh H2 và chị D đúng như bản cáo

Về hình phạt bổ sung: Do chiếc xe ô tô tải không là phương tiện hành nghề chính của bị cáo; bị cáo chỉ sử dụng chủ yếu cho gia đình và khi mọi người trong thôn xóm nhờ; mặt khác bị cáo cam kết sau vụ việc đã xảy ra sẽ chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, nên xét thấy không cần áp dụng biện pháp cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô là phù hợp.

Về việc khấu trừ thu nhập: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số; gia đình bị cáo làm nghề nông nghiệp, công việc không ổn định (Có xác nhận của UBND xã C); mẹ bị cáo đã vào tuổi 80; điều kiện kinh tế của bị cáo và gia đình khó khăn, nên xét thấy cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.

Đối với các hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua xe; điều khiển xe ô tô BKS 20C-071.xx tham gia giao thông không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực; đưa xe ô tô có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đã hết hạn sử dụng tham gia giao thông của bị cáo đã được cơ quan CSĐT Công an huyện chuyển tài liệu cho Công an huyện N để xử lý hành chính là có căn cứ:

[3] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây ra vụ tai nạn giao thông, bị cáo đã cùng gia đình của bị hại thỏa thuận bồi thường thiệt hại và bị cáo đã bồi thường xong số tiền 110.000.000,đ cho các khoản thiệt hại về tính mạng và tài sản bị xâm phạm theo biên bản thỏa thuận lập ngày 17/4/2022; tại phiên tòa những người đại diện hợp pháp của bị hại không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với khoản tiền 110.000.000,đ đã bồi thường cho gia đình bị hại là do Nông Văn T và chị Nông Thị H vay mượn riêng của anh Nông Văn H2. Do Anh Nông Văn H2 không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ hoàn trả của chị Nông Thị H, Nông Văn T cho anh nên nghĩa vụ hoàn trả của chị Nông Thị H, Nông Văn T cho anh Nông Văn H2 không được đặt ra để xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe ô tô BKS 20C-071.xx được bị cáo sử dụng để làm phương tiện vận chuyển hàng hóa chứ không có mục đích phạm tội nên hoàn trả lại cho bị cáo Nông Văn T kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, tên chủ xe Nông Văn T6, biển số đăng ký 20C-071.xx; 01 giấy phép lái xe, họ tên Nông Văn T, hạng C; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, biển đăng ký 20C-071.xx có hiệu lực đến hết ngày 28/6/2018; 01 giấy bán, cho, tặng xe ô tô lập ngày 28/12/2017 của bà Vũ Thị H3.

- 01 xe mô tô BKS 97B1-003.xx là tài sản thuộc sở hữu của Dương Văn T1 và bà Nông Thị L đã bị hư hỏng, bà L và những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

- 01 mũ bảo hiểm, loại nửa đầu và 01 mũ nhựa thuộc sở hữu của ông Dương Văn T1 (đã chết) cùng 01 đăng ký mô tô, xe máy, tên chủ xe Lý Văn T3 biển số đăng ký 97B1-003.xx bà Nông Thị L (vợ ông Tiên) có yêu cầu được nhận lại nên cần trả lại cho bà Nông Thị L.

- 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và 01 phong bì niêm phong, trên mép dán có 02 chữ ký của Ma Đình Huyến và Ng.T.Thúy được xác định có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Cỡ chữ