vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Tòng Văn D 01 (một) năm 05 (lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2022. Không phạt hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày: 21-11-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Quốc Cƣờng

2. Ông: Hảng A Nếnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2022/ TLST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Tòng Văn D; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970 tại huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKNKTT: Bản CH, xã ĂN, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CH, xã ĂN, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Tòng Văn A, sinh năm 1942 và con bà Tòng Thị B, sinh năm 1945; Gia đình bị cáo có 06 anh chị em ruột bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo có vợ là bà Lò Thị T, sinh năm: 1979 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1999 con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 22/4/2002 có hành vi Trộm cắp tài sản bị công an phường Thanh Bình, thị xã Điện biên Phủ, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; Ngày 18/6/2013 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý bị Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng từ ngày 30/8/2022 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Tòng Văn D được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại bản CH, xã ĂN, huyện MA, tỉnh Điện Biên Tòng Văn D đã có hành vi tàng trữ 0,2 gam Methamphatamine mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/8/2022 Tòng Văn D đi bộ từ nhà ra khu vực bản TT, xã ĂN tìm mua ma túy về sử dụng, khi đi đến bản TT, xã ĂN, huyện MA thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết 02 viên Hồng phiến được gói bằng mảnh ni lông màu hồng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy D cất trong túi quần bên phải rồi đi về nhà, còn người đàn ông dân tộc Thái đi đâu thì D không rõ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi D đang đi trên đường về đến bản CH, xã ĂN thì gặp Tổ Công tác Công an xã ĂN, huyện MA đang làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, vận động có ma tuý giao nộp, D đã tự giác lấy trong túi quần bên trái đang mặc 02 viên Hồng Phiến ra giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 0,2 gam Methamphetamine.

Ngày 07/9/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Tòng Văn Dvề tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 10 giờ 50 phút ngày 30/8/2022 thì vật chứng thu giữ của Tòng Văn D là 02 viên nén màu hồng có ký hiệu WY được gói bằng mảnh ni lon màu hồng nghi là Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 30/8/2022 thì 02 viên nén màu hồng có ký hiệu WY được gói bằng mảnh ni lon màu hồng nghi là Methamphetamine có khối lượng là: 0,2 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1202/KL- KTHS, ngày 05/9/2022 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Tòng Văn D gồm: 0,2 gam viên nén màu hồng là ma túy: Loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 86/CT - VKSMA, ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Tòng Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Tòng Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án. Tiêu huỷ 01 mảnh túi nilon màu hồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Tòng Văn D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng, Tòng Văn D nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án: Hồi 10 giờ 00 ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại bản CH, xã ĂN, huyện MA, tỉnh Điện Biên Tòng Văn D đã có hành vi tàng trữ 0,2 gam Methamphatamine mục đích để sử dụng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 30/8/2022 và kết luận giám định số: 1202/KL- KTHS, ngày 05/9/2022 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 05 phút ngày 30/8/2022 đối với Tòng Văn D.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tòng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện MA, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 09/12. Năm 1990 đi nghĩa vụ quân sự, năm 1993 xuất ngũ trở về địa phương sinh sống. Đến năm 1998 xây dựng gia đình với chị Lò Thị V, sinh năm: 1974 và có 01 người con. Năm 2000 không sống chung cùng chị V. Năm 2001 kết hôn với chị Lò Thị T, sinh năm 1979 và có 01 người con. Ngày 22/4/2002 có hành vi Trộm cắp tài sản bị công an phường Thanh Bình, thị xã Điện biên Phủ, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo; Ngày 18/6/2013 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý bị Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, đến ngày phạm tội coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, đã bị xử phạt hành chính nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, phù hợp để bị cáo có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi được tổ công tác động viên bị cáo đã tự giác giao nộp chất ma túy; bị cáo có bố đẻ, mẹ đẻ là ông Tòng Văn A và bà Tòng Thị B được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo chủ yếu thu nhập từ làm ruộng không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Hội đồng xét xử thấy rằng 0,1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy. 01 mảnh túi nilon màu hồng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.

Về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Thái vào ngày 30/8/2022. Quá trình điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Tòng Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Tòng Văn D 01 (một) năm 05 (lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2022.

Không phạt hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0, 1 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định; Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh túi nilon màu hồng (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2022).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Tòng Văn D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ