vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 18/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Hữu Đ phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày 18-03-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tống Xuân Tú

2.Ông Nguyễn Ngọc Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2022/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/HSST-QĐ, ngày 02 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Hữu Đ, sinh ngày 23 tháng 3 năm 1988; tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; con ông Vũ Hữu Đ, sinh năm 1952 là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng Huy cH2 kháng chiến hạng nhất và bà Đào Thị L, sinh năm 1962; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12-11-2021, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1937; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (đã chết).

- Những người đại diện hợp pháp cho ông Phạm Văn L:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1937 (là vợ ông L); 2. Chị Phạm Thị T, sinh năm 1959 (là con ông L); 3. Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1961 (là con ông L); 4. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1966 (là con ông L); 5. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1970 (là con ông L); Đều cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 6. Chị Phạm Thị V, sinh năm 1962 (là con ông L); 7. Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1968 (là con ông L); 8. Chị Phạm Thị C, sinh năm 1972 (là con ông L); Đều cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

- Người đại diện theo ủy quyền cho bà N, chị T, chị T1, anh H, chị V, chị H2 và chị Chiến: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1966; nơi cư trú Thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Những người làm chứng: 1. Bà Cao Thị N1, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Khu phố 1, tổ 2, phường B, TP Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ( vắng mặt). 2. Anh Phạm Đức K, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt). 3. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996, trú tại thôn M, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25-10-2021, bị cáo Vũ Hữu Đ có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, sơn màu trắng - đen, biển kiểm soát 17B4 -199.84 phía sau kéo theo xe lôi tự chế đi hướng từ xã M, huyện Hưng Hà về xã Đ, huyện Hưng Hà. Khi đi đến km 5+50m đường ĐT 453, thuộc địa phận thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, do thiếu chú ý quan sát, Đ điều khiển xe mô tô đi vào phần đường dành cho người đi bộ (được phân chia với phần đường xe chạy bởi vạch sơn liền màu trắng) nên phần bánh xe đằng trước bên trái của xe mô tô do Đ điều khiển đã đâm vào cẳng chân trái của ông Phạm Văn L, cư trú tại thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang đi bộ phía trước cùng chiều làm ông L bị ngã ra đường. Hậu quả: Ông L bị thương phải cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Hà, sau đó chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội. Đến 21 giờ cùng ngày ông L chết.

Tại bản kết luận giám định pháp về y tử thi số 256/KLGĐTT-PC09 ngày 10-11-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận các dấu hiệu Ch qua giám định: Đa chấn thương vùng đầu, mặt và chân do tai nạn giao thông làm vỡ xương sọ vùng giữa chẩm, xương vỡ lún vào trong, dập não. Nạn nhân Phạm Văn L chết do chấn tH2 sọ não.

Bản cáo trạng số 14/CT-KSHH ngày 27-01-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Hữu Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Vũ Hữu Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Người đại diện theo ủy quyền cho bị hại anh Phạm Văn C trình bày: Anh xác định lời khai của bị cáo Đ là đúng. Đến nay bị cáo Đ đã bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác. Anh đề nghị HĐXX, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Hữu Đ về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Hữu Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù cho hưởng án treo năm, ấn định thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, giao bị cáo Vũ Hữu Đ cho Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 100.000.000 đồng, anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản nào tiền khác. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa pH2.

Anh C không có ý kiến tranh luận, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện theo pháp luật cho bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Vũ Hữu Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm hồi 05 giờ 35 phút ngày 26-10-2021; Báo cáo về vụ việc của Công an xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường và bản ảnh khám nghiệm hiện trường do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 26-10-2021; Biên bản khám nghiệm phương tiện và bản ảnh khám nghiệm phương tiện do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 01-11-2021; Biên bản khám nghiệm tử thi; Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 256/KLGĐTT-PC09 ngày 10-11-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và bản ảnh tử thi; Bản kết luận giám định số 127/KLGĐĐT-PC09 ngày 02-12-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và phụ lục bản ảnh kèm theo; Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng anh Phạm Đức K, bà Cao Thị N1, anh Nguyễn Văn Q cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25-10-2021, tại km 5+50m đường ĐT 453, thuộc địa phận thôn P, xã Đ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; bị cáo Vũ Hữu Đ có giấy phép lái xe hạng A1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, sơn màu trắng - đen, biển kiểm soát 17B4 -199.84 phía sau kéo theo xe lôi tự chế, đi sai phần đường, thiếu chú ý quan sát, nên phần bánh xe đằng trước bên trái của xe mô tô do Đ điều khiển đã đâm vào cẳng chân trái của ông Phạm Văn L đi phía trước cùng chiều làm ông L chết.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Hữu Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11; điểm c khoản 3 Điều 29; điểm b khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ gây tai nạn, hậu quả làm chết một người. Vì vậy, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 9. Quy tắc chung

“ 1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

.....”

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đƣờng bộ

“ 1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.

.....”

Điều 29. Xe kéo xe và xe kéo rơ moóc

“........

3. Không được thực hiện các hành vi sau đây:

.......

c) Kéo theo xe thô sơ, xe gắn máy, xe mô tô.”

Điều 30. Ngƣời điều khiển, ngƣời ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy

“ ...........

3. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sau đây:

a) Đi xe dàn hàng ngang;

b) Đi xe vào phần đường dành cho người đi bộ và pH2 tiện khác;

...........”

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Vũ Hữu Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Hữu Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn, hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện theo ủy quyền của người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hành vi điều khiển xe mô tô gây tai nạn của bị cáo là lỗi vô ý nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện của bị hại số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[8] Đối với hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo không đội mũ bảo hiểm, không có gương chiếu hậu bên trái đã bị Công an huyện Hưng Hà xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, sơn màu trắng - đen, biển kiểm soát 17B4 - 199.84; 01 chiếc xe lôi tự chế; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 006815 ngày mang tên Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra, xác định những tài sản trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn Q. Anh Q cho Đ mượn các tài sản trên để sử dụng không thể biết Đ sử dụng gây tai nạn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã trả lại những tài sản trên cho anh Q là đúng quy định của pháp luật.

[10] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hữu Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Hữu Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18-3-2022). Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

3.Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại (anh Phạm Văn C) về việc bị cáo đã bồi thường xong cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), anh C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản nào tiền khác.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Hữu Đ.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Hữu Đ và anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà N, chị T, chị T1, anh H, chị V, chị H2 và chị Chiến có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ