vanban.org

Bản án 18/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 1611/KL-KTHS có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định viên; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Jet” đã qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HS-ST
Ngày: 21-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Dân An;

2. Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiến - Kiểm sát viên;

Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, giới tính: Nam; sinh ngày 22 thánh 9 năm 1996, Tại Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Tổ 8, ấp N, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Làm mướn. Trình độ học vấn: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 và bà Trương Thị C, sinh năm 1977. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: Ngày 10/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xứ lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng, chấp hành xong ngày 08/12/2018, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/12/2021, tạm giam ngày 27/12/2021 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn T là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2017. Để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 10 giờ ngày 22/12/2021 bị cáo T nhờ bạn tên Lê Ngọc D chở từ nhà đến một quán cà phê ven đường thuộc khu vực ấp Trường Phước, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tình. Tại đây, bị cáo kêu anh D ngồi chờ và mượn xe anh D đi gặp một thanh niên tên Trọc (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua một bịch ma túy, giá 500.000 đồng được bỏ sẳn trong gói thuốc lá hiệu “JET”. Sau khi mua được ma túy, bị cáo bỏ vào túi quần phía trước, bên phải đang mặt rồi điều khiển xe lại quán cà phê đón anh D. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đi trên đường Nguyễn Văn Linh đoạn thuộc ấp Trường Phước, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an thị xã Hòa Thành dừng xe kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn T cất giấu trong túi quần phía trước bên phải một gói thuốc lá hiệu “JET” bên trong có 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu M.

Tại Kết luận giám định số 1611, ngày 25/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 2,1684 gam.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và vật chứng bị thu giữ đúng nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố;

Tại cáo trạng số 16/CT-VKSHT ngày 03 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 02 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo;

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 1611/KL-KTHS có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định viên; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Jet” đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, Imei: 357759102613932 đã qua sử dụng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của bị cáo, những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Bị cáo Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 11 giờ, ngày 22/12/2021, trên đường Nguyễn Văn Linh đoạn thuộc ấp Trường Phước, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép 2,1684 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Tội phạm về ma túy nói chung gây ảnh hưởng rất lớn về trật tự an toàn xã hội, đạo đức lối sống, gây nguy hại cho sức khỏe của con người. Nguy hiểm nhất ma túy đang lan rộng trong thế hệ trẻ, tác động xấu về đạo đức, lối sống, sức khoẻ, tri thức của hàng vạn thanh thiếu niên, ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động của xã hội, đến tương lai và sự tồn vong của dân tộc. Trong khi đó bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng tiếp tục tái nghiện; do đó cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một khoản thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo giáo dục và góp phần phòng chống tội phạm.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Không có;

[5.2.] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 1611/KL-KTHS có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định viên; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Jet” đã qua sử dụng. Riêng 01 điện thoại di động hiệu Nokia, Imei: 357759102613932 đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng để làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2021.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 1611/KL-KTHS có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Tây Ninh và chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định viên; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Jet” đã qua sử dụng.

Tuyên tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, Imei: 357759102613932 đã qua sử dụng;

3. Về án phí sơ thẩm hình sự:

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ