- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức Huy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: bị cáo Trần Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày 28-03-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và ông Nguyễn Văn Thiện.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Đức H; sinh năm: 1979; tại: Huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn Đ, xã H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức G và bà Mai Thị Đ; có vợ là Lã Thị T (đã ly hôn) và có 02 con; Tiền sự: không;
Tiền án: bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án số 36/2019/HS-ST ngày 24/04/2019 của Tòa án nhân dân Huyện Hà Trung đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 10/04/2020.
Nhân thân: tại bản án số 01/HSST ngày 16/01/2001 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 16/01/2003.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/10/2021 đến ngày 20/10/2021 cHển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị An Thị T; sinh năm: 1981; địa chỉ: thôn Đ, xã H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người làm chứng: anh Trương Văn Q; sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn Đ, xã H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 14/10/2021, tổ công tác Công an Huyện Hà Trung phối hợp với Công an xã H làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát an ninh tại khu vực chợ Đ, xã H thì phát hiện Trần Đức H có biểu hiện nghi vấn mua bán ma túy với một người đàn ông, tổ công tác tiến hành đến kiểm tra H thì người đàn ông bỏ chạy, tổ công tác truy đuổi thì thấy H chạy xe mô tô vào xưởng cơ khí V thuộc thôn Đ, xã H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tiến hành kiểm tra H thì thu giữ 01 điện thoại di động, kiểm tra quanh khu vực H đứng phát hiện thu giữ ở dưới lazăng xe ô tô một bao thuốc lá Thăng Long, bên trong bao thuốc lá phát hiện một gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, tiếp đến là lớp giấy, trong cùng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy. Tại chỗ, H khai nhận đó là bao thuốc lá của H vừa để xuống. Tổ công tác niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, tiếp đến là lớp giấy, trong cùng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy được niêm phong ký hiệu “vụ Trần Đức H”; 01 xe mô tô BKS: 35N1 - 450.05 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus .
Tại Bản kết luận giám định số 3188/PC09 ngày 18/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong kí hiệu “vụ Trần Đức H” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,130g (không phẩy một ba không gam), loại: Heroine.
Quá trình điều tra, Trần Đức H khai nhận: vào khoảng 12 giờ 10 phút ngày 14/10/2021, H chạy xe mô tô biển kiểm soát 35N1 - 45005 từ thôn Đ, xã H đến khu vực chợ Đ thuộc xã H để mua đồ ăn. Khi đến chợ Đ, H gặp một nam thanh niên mặc áo mưa, đeo khẩu trang, gọi H lại nói chuyện, người này hỏi H lâu nay còn sử dụng ma túy không? H trả lời: Thi thoảng vẫn dùng, sau đó người này hỏi H có lấy ma túy sử dụng không thì H bảo có, nam thanh niên lấy từ trong túi quần ra một bao thuốc lá rồi thả xuống đường bảo H cầm lấy mà sử dụng rồi đi luôn, H cầm bao thuốc lá đi về nhà, trên đường về thấy có người đi theo, do sợ bị Công an phát hiện nên H đi vào xưởng cơ khí của anh Vĩnh ở thôn Đ, xã H để giấu bao thuốc lá vào trong lazăng xe ô tô rồi đi ra chỗ xe máy đứng. Một lúc sau, lực lượng Công an đến kiểm tra thu giữ bao thuốc lá H vừa mới giấu, sau đó lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.
Cáo trạng số 29/CT-VKSHT ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trần Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự: tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Đức H từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản băt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định, đủ cơ sở khẳng định: vào hồi 12 giờ 20 phút, ngày 14/10/2021, tại thôn Đ, xã H, Huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Công an Huyện Hà Trung bắt quả tang Trần Đức H đang tàng trữ trái phép một gói ma túy có tổng khối lượng 0,130g (không phẩy một ba không gam), loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hà Trung truy tố bị cáo Trần Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Mặt khác, bị cáo còn là đối tượng đã từng hai lần bị kết án, tại bản án số 01/HSST ngày 16/01/2001 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích nhưng điều đó cũng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu; tại bản án số 36/2019/HS-ST ngày 24/04/2019 của Tòa án nhân dân Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bố đẻ của bị cáo được tặng “H chương kháng chiến vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần căn cứ những tình tiết này để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với nam thanh niên đưa ma túy cho H, quá trình điều tra không xác định được danh tính nên không có căn cứ xử lý
. Về xử lý vật chứng: khối lượng ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.
. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Đức H.
1. Về tội danh: bị cáo Trần Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Trần Đức H 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 14/10/2021.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định, được đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong (đặc điểm của phong bì niêm phong theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/02/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện Hà Trung).
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Đức H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hà Trung; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan điều tra Công an Huyện Hà Trung; - Nhà tạm giữ Công an Huyện Hà Trung; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Văn Nam |