- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Trung N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HS-ST Ngày: 22-02-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Hiệp – Hội liên hiệp phụ nữ huyện Đ
- Ông Nguyễn Huy Khoa – Giáo viên trường THCS Hiệp Thạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thành Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa số 27/2022/TB-TA ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung N, sinh ngày 21/3/2004; nơi sinh: Nghệ An; nơi ĐKNKTT: Xóm 5, thôn 4, xã Suối Kiết, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; tạm trú tại: 156 Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Cao Ng, sinh năm 1977; con bà: Trần Thị D, sinh năm 1976; gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2011; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt
Người giám hộ cho bị cáo: Ông Nguyễn Cao Ng, sinh năm 1977; bà Trần Thị D, sinh năm 1976; Nơi ĐKNKTT: Xóm 5, thôn 4, xã Suối Kiết, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Tạm trú tại: Thôn Tân Trung, xã Tân Hội, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thanh Xuân – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
* Người làm chứng: Ông Ngô Trọng H.
Trú tại: Tổ 25, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 05/10/2021, qua công tác nghiệp vụ Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Đ phát hiện có đối tượng nghi vấn phạm tội về ma túy tại hẻm 55 Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đội CSĐTTP về Ma túy phối hợp với Công an thị trấn L N tiến hành kiểm tra hành chính đối với N thanh niên tên Nguyễn Trung N. Quá trình kiểm tra Cơ quan Công an phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của N đang mặc trên người có 01 (một) gói nylon màu đen bên trong có 01 (một) gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. N khai nhận với Cơ quan Công an gói chất trên là ma túy đá của N cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do điều kiện thời tiết và ánh sáng không đảm bảo lực lượng Công an tiến hành di lý Nguyễn Trung N về Công an thị trấn L N để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Trung N, đồng thời niêm phong toàn bộ số chất nghi là ma túy trên vào trong 01 (một) phong bì dán kín trước mặt người bị bắt, N ký tên xác nhận.
Kết luận trưng cầu giám định số 1325/GĐ-PC09 ngày 08 tháng 10 năm 2021 của Phòngkỹ thuật Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,1131g (một phẩy một một ba một gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Vật chứng của vụ án:
- 02 (hai) phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số: 1325/2021 –PC09 có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LâmĐồng là toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
- 01 (một) túi nylon màu đen dùng để chứa chất ma túy.
Hiện cơ quan điều tra đã chuyển giao số tang vật trên cho cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý theo luật định.
Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 07 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát huyện Đ giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhưng mong hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo, bị cáo nghỉ học sớm, trình độ học vấn thấp và bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị là 12 tháng tù để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau: Vào ngày 05/10/2021 bị cáo Nguyễn Trung N được một người đàn ông tên N nghiện cho 01 gói ma túy để sử dụng cho bản thân. Vào khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày 05/10/2021 khi bị cáo N đang đi bộ tại hẻm 55 Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì bị đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy phối hợp với Công an thị trấn L N tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của bị cáo N đang mặc trên người có 01 (một) gói nylon màu đen bên trong có 01 (một) gói nylon chứa ma túy mà bị cáo được cho trước đó.
Tại bản kết luận số 1325/GĐ-PC09 ngày 08 tháng 10 năm 2021 của Phòngkỹ thuật Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,1131g (một phẩy một một ba một gam), loại Methamphetamine.
Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng vụ án và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, ổn định tại địa phương mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy.
Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thời điểm bị cáo phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận về mặt pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Từ những phân tích nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tang vật của vụ án:
- Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau khi gửi đi giám định đựng trong 02 (hai) phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số: 1325/2021-PC09 có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng và 01 túi nylon màu đen dùng để chứa chất ma túy xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/10/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau khi gửi đi giám định đựng trong 02 (hai) phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số: 1325/2021-PC09 có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng và 01 túi nylon màu đen dùng để chứa chất ma túy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Trung N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người giám hộ, người bào chữa của bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Huy Khoa Nguyễn Thị Xuân Uyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thanh Long THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Long |