- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LHSt Phạm Văn H - Vũ Thị Ngọc V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn H:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST Ngày 26-4-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Đặng Trình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Chính
Ông Vũ Văn Lẫy
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 165/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
- Bị đơn: Chị Vũ Thị Ngọc V, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 89 phố P, Tổ P, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân:
Nguyên đơn trình bày: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 23/4/2014. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải, cuộc sống vợ chồng, căng thẳng, không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên hai vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi 03 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá nghiêm trọng, không thể đoàn tụ được nên anh Phạm Văn H đề nghị Toà án giải quyết cho anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Vũ Thị Ngọc V.
Bị đơn trình bày: Chị Vũ Thị Ngọc V và anh Phạm Văn H kết hôn được 08 năm nhưng chỉ chung sống được 04 năm, do hoàn cảnh khó khăn nên anh Phạm Văn H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Trong thời gian chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Trong thời gian anh Phạm Văn H đi lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu thì quan hệ vợ chồng vẫn bình thường, thời gian sau anh Phạm Văn H cắt đứt liên lạc với ba mẹ con chị Vũ Thị Ngọc V. Trong thời gian anh Hải vắng nhà đã gửi vợ con về ông bà ngoại. Cho đến khi anh Phạm Văn H về nước làm đơn xin ly hôn chị Vũ Thị Ngọc V, trong khi chị Vũ Thị Ngọc V không biết gì nên chị Vũ Thị Ngọc V không đồng ý ly hôn với anh Phạm Văn H.
Về con chung: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V đều khai: Có 02 con chung là Phạm Hà M, sinh ngày 04-7-2014 và Phạm Hà P, sinh ngày 07-02-2018. Khi ly hôn, anh Phạm Văn H đề nghị mỗi người nuôi một con và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con; chị Vũ Thị Ngọc V đề nghị được nuôi cả 02 con chung và yêu cầu anh Phạm Văn H cấp dưỡng nuôi con chung cho mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V đều không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Vũ Thị Ngọc V, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 89 phố P, tổ P, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2014, quyển số 01/20014 ngày 23/4/2014. Vì vậy, hôn nhân giữa anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, hai vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Phạm Văn H xin ly hôn chị Vũ Thị Ngọc V là có căn cứ cần được chấp nhận. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đề nghị của anh Phạm Văn H xin ly hôn chị Vũ Thị Ngọc V là phù hợp pháp luật.
Về con chung: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V có 02 con chung là Phạm Hà M, sinh ngày 04-7-2014 và Phạm Hà P, sinh ngày 07-02-2018; cháu Phạm Hà M có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Khi ly hôn anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V đều có nguyện vọng và điều kiện nuôi con nên giao mỗi người nuôi 01 con, con Phạm Hà M có nguyện vọng ở với mẹ nên giao con Phạm Hà M cho chị Vũ Thị Ngọc V và giao con Phạm Hà P cho anh Phạm Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Do mỗi người nuôi 01 con nên việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.
Về án phí: Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn H:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V.
2. Về con chung: Giao con Phạm Hà M, sinh ngày 04/7/2014 cho chị Vũ Thị Ngọc V và giao con Phạm Hà P sinh ngày 07/02/2018 cho anh Phạm Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do mỗi người nuôi 01 con nên nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của mỗi bên tạm hoãn không xem xét giải quyết hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Anh Phạm Văn H và chị Vũ Thị Ngọc V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003610 ngày 05/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng, Anh Phạm Văn H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận K; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận K; - UBND xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Đặng Trình |