vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N đối với ông Nguyễn Hồng B.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Hồng B. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 26/8/2017 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi. Ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng N -Nguyễn Hồng B ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N đối với ông Nguyễn Hồng B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 04-3-2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Mạnh Quyết

2. Ông Nguyễn Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đ i di n vi n ki m sát nhân dân huy n Th Th a tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan – Ki m sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 236/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1984.

Địa chỉ: 69B/3 khu phố Bình Lợi, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng B, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp 2, xã P, huyện P, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/11/2021 và biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày: Do quen biết tự tìm hi u nên bà N và ông B tiến đến hôn nhân có tổ chức đám cưới năm 2016 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P huyện T tỉnh Long An. Sau khi kết hôn bà N và ông B thuê nhà trọ sống đ đi làm, đến năm 2017 bà N sinh con nên về nhà cha mẹ ruột sống còn ông B vẫn ở trọ đ đi làm. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông B thường xuyên nhậu nhẹt, ăn chơi, gây nợ rất nhiều, ông không phụ giúp kinh tế gia đình, bà N khuyên can ông B rất nhiều lần nhưng ông B không thay đổi, từ đó xung đột mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không th hàn gắn được. Bà N và ông B đã sống ly thân với nhau từ tháng 05/2019 cho đến nay. Quá trình chung sống ông bà có 01 con chung hiện đang sống với bà N tại thị trấn Tân Trụ. Từ khi ly thân đến nay ông B không đến thăm bà N cũng không thăm nom cấp dưỡng cho con chung. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không được được nên bà N kiên quyết yêu cầu được ly hôn với ông B. Về con chung: Bà N và ông B có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày 26/8/2017. Khi ly hôn bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Do bà N làm công nhân tại Công ty may xuất khẩu Phong Phú, thu nhập một tháng khoảng 10.000.000đ nên có đủ khả năng điều kiện đ nuôi dưỡng chăm sóc con. Thời gian làm việc của bà N từ 07 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút, khi đi làm thì bà Ngoại sẽ chăm sóc con. Do bà N đi làm sáng đi chiều về nên việc chăm sóc con cũng thuận tiện. Quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hồng B vắng mặt đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến hay yêu cầu cụ th nào.

Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải đ đoàn tụ nhưng không tiến hành hòa giải được do bị đơn được triệu tập hợp lệ tới lần thứ 2 mà không tham gia nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát bi u: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được bà N yêu cầu ly hôn là phù hợp. Về con chung giao bà N trực tiếp nuôi dưỡng; ông B không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Nguyễn Hồng B có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay bà Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu ly hôn, ông B đang cư trú tại ấp 2, xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Hồng B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đ xét xử, nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Trong thời gian chung sống giữa bà N và ông B đã xảy ra mâu thuẫn do ông B thường xuyên ăn nhậu, gây ra nợ nần, không phụ giúp kinh tế gia đình. Bà N đã nhiều lần khuyên giải nhưng ông B không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu bà N cung cấp gồm đơn khởi kiện có th hiện rõ lời trình bày của bà N về mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên ông B không có ý kiến hay phản đối. Do đó nhận thấy trong thời gian chung sống giữa bà N và ông B đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai bên không tìm cách đ giải quyết mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây cãi hậu quả bà N và ông B không còn sống chung từ năm 2019 đến nay. Tòa án tiến hành hòa giải cho bà N và ông B trở về đoàn tụ đồng thời cho thêm thời gian đ ông bà khắc phục tình trạng hôn nhân của mình, song ông B không tham gia hòa giải. Tại phiên tòa ông B cũng vắng mặt cho thấy ông không còn thiết tha với mối quan hệ hôn nhân này. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bà N và ông B không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà N là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 26/8/2017. Bà N có thu nhập ổn định, sống chung cha mẹ ruột phụ chăm sóc cháu. Ông B không có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó cần giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Khi cần thiết có quyền làm đơn yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông B được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi cần thiết bà N và ông B có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Bà N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N đối với ông Nguyễn Hồng B.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Nguyễn Hồng B.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Duy K, sinh ngày: 26/8/2017 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi. Ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông B được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002117 ngày 07/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Bà N không phải nộp thêm.

3. Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt không đồng ý thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được hoặc từ ngày niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ