vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về quan hệ con chung: Giao con Nguyễn Minh N, sinh ngày 30/8/2008 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưỡng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị T và Anh Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21/ 9/2022.
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Lê Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ông Phạm Ngạch và Ông Trịnh Xuân Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21/9/2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2022/TLST-HNGĐ ngày 23/6/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXX - HNGĐ ngày 26/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1022/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T. Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Tổ dân phố 13, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H. Sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ dân phố 13, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 26/02/2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống tạị tổ dân phố 13, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2004 thì xảy ra mâu thuẫn với lý do anh H không tu chí làm ăn theo bạn bè nghiện ma túy từ năm 2008 lại nay, dẫn đến vợ chồng sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất hòa về quan điểm sống, không thể chia sẻ cùng nhau, không thể tìm được tiếng nói chung. Chị T không thể chịu đựng thêm được nữa, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân đã cắt đứt mọi quan hệ. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 07/3/2003 nay đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết, con Nguyễn Minh N, sinh ngày 30/8/2008, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho được nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H tại bản tự khai ngày 24/6/2022 và tại phiên hòa giải trình bày:

Về điều kiện, thời gian và nơi đăng ký kết hôn của vợ chồng đúng như chị T đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tạị tổ dân phố 13, thị trấn H, huyện H, vợ chồng sống hạnh phúc sinh được hai người con, do kinh tế khó khăn, trong cuộc sống giữa hai bên không có được sự đồng thuận nên đã có xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống ly thân nhau từ cuối năm 2019 cho đến nay, anh H mong muốn chị T suy nghỉ lai để đoàn tụ. Nay chị T làm đơn xin ly hôn thì anh H không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung, một con đã trưỡng thành nên không yêu cầu giải quyết, con Nguyễn Minh N, sinh ngày 30/8/2008 đề nghị tòa án giải quyết quyền nuôi con theo qui định của pháp luật.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai bên tự thỏa thuận thống nhất với nhau, nhưng chị T và anh H không thể không thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, nên vụ án phải đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý đơn, giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật, bị đơn thực hiện tương đối đầy đủ các quy định của pháp luật.

- Về ý kiến giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với các quy định của pháp luật có cơ sở đề nghị HĐXX:

- Về quan hệ vợ chồng: Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014 chÊp nhËn nội dung đơn khëi kiÖn cña chị Nguyễn Thị T, đồng ý cho chị T ly hôn với anh H.

- Về con cái: Giao con Nguyễn Minh N, sinh ngày 30/8/2008 cho chị T trực tiếp được nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về tài sản: Các bên đương sự, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện H giải quyết ly hôn, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có địa chỉ cư trú tại Tổ dân phố 13, thị trấn H huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã biết được tòa án thụ lý vụ án, có mặt tại Tòa án để lấy lời khai, tòa án tiến hành hòa giải lần thứ nhất, lần thứ hai vắng mặt, các bên không thỏa thuận được với nhau. Vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử. Tòa án đã triệu tập H lệ phiên tòa lần thứ nhất nhưng bị đơn vắng mặt nên hoãn phiên tòa, đã tống đạt H lệ quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn. Phiên tòa lần thứ 2 bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 26/12/2003 nên xác định là quan hệ hôn nhân H pháp. Theo chị T trình bày: Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Lý do là anh H không chăm lo làm ăn, bỏ bê gia đình theo bạn bè nghiện ma túy dẫn đến bất hòa về lối sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng vẫn không hàn gắn được tình cảm, chị T đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở, cắt đứt mối quan hệ tình cảm. Anh H có mong muốn chị T quay trở về đoàn tụ, nhưng chị T không nhất trí. HĐXX nhận thấy vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nữa. Việc chị T làm đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ, phù H với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có hai con chung, một con đã trưỡng thành nên không yêu cầu giải quyết, con Nguyễn Minh N, sinh ngày 30/8/2008 nên giao con cho một bên nuôi dưỡng. Anh H đề nghị Tòa án giải quyết quyền nuôi con theo qui định của pháp luật. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Việc giao con chưa chưa thành niên cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét từ việc xem xét hoàn cảnh và điều kiện thực tế của người được trực tiếp nuôi con phải đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con để con phát triển khỏe mạnh, bình thường. Xét thấy cháu Nguyễn Minh N hiện nay đang ở với chị T, việc chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con là chính đáng, đảm bảo đầy đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con, phù H với ý kiến cháu Nguyễn Minh N có nguyện vọng được mẹ nuôi dưỡng, nên giao cho chị T trực tiếp nuôi con là phù H với thực tế cũng như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình nên giao con Nguyễn Minh N cho chị T nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm theo quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về quan hệ con chung: Giao con Nguyễn Minh N, sinh ngày 30/8/2008 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưỡng thành đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Văn H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản và không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Chị T đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0007833 ngày 21/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, nay không phải nộp nữa.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ