vanban.org

Bản án 18/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phan Văn L và chị Phan Thị H.

Về con chung: Giao ba con chung tên Phan Khải Đ, sinh ngày 06/3/2008; Phan Thị Mỹ N, sinh ngày 03/6/2010 và Phan Khải Đ, sinh ngày 18/7/2012 cho anh Phan Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phan Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh L không yêu cầu. Chị Phan Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phan Văn L khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị H, yêu cầu được nuôi ba con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phan Văn L và chị Phan Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08-4-2022
V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị N Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân;

Ông Mai Trần Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 451/2021/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2021 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1984 (có đơn vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 9, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 9, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/11/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – anh Phan Văn L trình bày:

Anh và chị Phan Thị H chung sống với nhau năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vào ngày 29/11/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên tH hay cãi vã nhau. Chị H bỏ nhà đi từ tháng 10/2020 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ ngày sống ly thân, chị H không về nhà lần nào để thăm các con và cũng không liên lạc với anh. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ1 được, anh yêu cầu được ly hôn với chị H.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung tên Phan Khải Đ, sinh ngày 06/3/2008; Phan Thị Mỹ N, sinh ngày 03/6/2010 và Phan Khải Đ, sinh ngày 18/7/2012. Anh L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ ai.

Bị đơn – Chị Phan Thị H: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị H không đến, không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh L, nên không có ý kiến trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phan Văn L với chị Phan Thị H. Về con chung: giao cháu Phan Khải Đ, sinh ngày 06/3/2008l; Phan Thị Mỹ N, sinh ngày 03/6/2010 và Phan Khải Đ, sinh ngày 18/7/2012 cho anh L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh L không yêu cầu. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không đặt ra để giải quyết. Về án phí: Anh L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn cư trú tại ấp Thành Trung, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Anh Phan Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Phan Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L và chị H.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Anh Phan Văn L và chị Phan Thị H chung sống với nhau vào năm 2007 là hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vào ngày 29/11/2010. Nên hôn nhân giữa anh L và chị H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét thấy: Sau khi kết hôn anh L và chị H chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo anh L trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã nhau. Chị H bỏ nhà đi từ tháng 10/2020 và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Phía chị H, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống Đ1 hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H, nhưng chị H không đến Tòa án và cũng không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của anh L nên không có ý kiến trình bày.

Thấy rằng: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”. Hội đồng xét xử nhận thấy, anh L và chị H ly thân nhau thời gian đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không Đ1 được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh L đối với chị H.

Về con chung: Anh Phan Văn L và chị Phan Thị H có ba con chung tên Phan Khải Đ, sinh ngày 06/3/2008; Phan Thị Mỹ N, sinh ngày 03/6/2010 và Phan Khải Đ, sinh ngày 18/7/2012. Anh L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Xét thấy, hiện tại các cháu Phan Khải Đ, Phan Thị Mỹ N và Phan Khải Đ đang sống cùng anh L, do anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Quá trình giải quyết vụ án, các cháu Đ, N và Đ1 có nguyện vọng được sống cùng anh L. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của anh L có cơ sở chấp nhận, nên giao các cháu Phan Khải Đ, Phan Thị Mỹ N và Phan Khải Đ cho anh L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp, đúng pháp luật.

Về tài sản chung: Anh Phan Văn L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, xét thấy: Đây là đề nghị có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh Phan Văn L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phan Văn L và chị Phan Thị H.

2. Về con chung: Giao ba con chung tên Phan Khải Đ, sinh ngày 06/3/2008; Phan Thị Mỹ N, sinh ngày 03/6/2010 và Phan Khải Đ, sinh ngày 18/7/2012 cho anh Phan Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phan Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh L không yêu cầu.

Chị Phan Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh Phan Văn L trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Anh Phan Văn L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0016968 ngày 30/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Anh L đã nộp xong.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ