- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NHKL-L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” đối với chị Trương Thị Lọ L;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 18/2022/DS-ST Ngày: 11/08/2022 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;
2. Bà Cù Thị Ngọc Thảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi, Thư ký Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã T xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2021/TLST-DS ngày 27/12/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 06 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2022/QĐST-DS ngày 14/7/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K (Kbank) (viết tắt Ngân hàng); Địa chỉ trụ sở: Số 40-42-44, đường A, phường B, thành phố C, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M– Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Th – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng – Chi nhánh Phòng giao dịch Tân Châu (Quyết định uỷ quyền số 1395/QĐ-NHKL ngày 29/6/2020).
Người được uỷ quyền lại: Ông Lê Thanh Nh – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng – Chi nhánh phòng giao dịch Tân Châu (Giấy uỷ quyền số 15/UQ-PGDTCh ngày 10/12/2021); Địa chỉ: Số 30 Nguyễn Văn L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Chị Trương Thị Lọ L, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 5, khóm L1, phường L2, thị xã T, tỉnh An Giang.
Anh Nh đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng, có mặt; Chị Lọ L vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2021 của Ngân hàng TMCP K, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Nh trình bày:
Ngân hàng TMCP K – Phòng giao dịch Tân Châu (viết tắt là Ngân hàng) có cho chị Lọ L vay tổng số tiền 15.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020, số tiền vay 15.000.000 đồng, lãi suất cho vay 16%/năm (lãi gộp), lãi suất nợ quá hạn 24%/năm, thời hạn vay: 180 ngày, giải ngân từ ngày 24/6/2020, đến hạn 21/12/2020, mục đích vay: mua bán. Chị Lọ L có cầm cố tài sản bảo đảm cho Ngân hàng là 01 (một) xe máy 02 bánh, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu Trắng – Đen – Bạc, số máy: JA39E1127373, số khung: 3915KY266228, biển kiểm soát 67H1-659.31 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 055485 do chị Trương Thị Lọ L đứng tên.
Sau khi vay, chị Lọ L chỉ thanh toán cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC, tính đến ngày 22/7/2020, với số tiền 2.800.000 đồng, trong đó: vốn gốc là 2.615.890 đồng, lãi trong hạn là 184.110 đồng. Đến hạn thanh toán, chị Lọ L được Ngân hàng nhiều lần thông báo nhắc nhở trả nợ và chị cũng đã nhiều lần cam kết nhưng vẫn không thanh toán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký.
Nay, Ngân hàng yêu cầu chị Lọ L trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/08/2022 là 18.253.062 (mười tám triệu hai trăm năm mươi ba nghìn không trăm sáu mươi hai) đồng. Trong đó, tiền vốn gốc là 12.384.110 đồng; lãi trong hạn 999.452 đồng; lãi quá hạn: 4.869.500 đồng. Đồng thời, tính lãi phát sinh từ ngày 11/08/2022 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng nêu trên.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020 được ký kết giữa Ngân hàng với chị Lọ L để đảm bảo cho việc thi hành án.
Kèm theo đơn khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp các tài liệu, chứng cứ: Quyết định ủy quyền số 1395/QĐ-NHKL ngày 29/06/2020 (photo, đã đối chiếu bản chính); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần (photo, đã đối chiếu bản chính); Quyết định bổ nhiệm chức danh quyền tổng giám đốc số 210/QĐ-HĐQT ngày 12/10/2021 (photo, đã đối chiếu bản chính); Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh (photo, đã đối chiếu bản chính); Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh; Quyết định thành lập phòng giao dịch Tân Châu (photo, đã đối chiếu bản chính); Giấy ủy quyền số 13/UQ-PGDTCh ngày 06/12/2021; Hợp đồng tín dụng kiêm Hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020 (photo, đã đối chiếu bản chính); Quyết định bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Chi nhánh An Giang số 184/QĐ-HĐQT ngày 29/6/2021; Quyết định số 334/QĐ-HĐQT ngày 18/9/2020 (photo, đã đối chiếu bản chính); Bảng kê tính lãi theo hợp đồng; Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 67H1-659.31; Giấy CMND và sổ hộ khẩu của bị đơn.
Những tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án đã thu thập: Phiếu trả lời kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 11/04/2022 của Công an thị xã T: 01 xe máy, loại xe 02 bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, dung tích xi lanh 109, màu Trắng – Đen – Bạc, số máy: JA39E1127373, số khung: Y266228, biển kiểm soát 67H1-659.31, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 055485 do Công an thị xã T, tỉnh An Giang cấp ngày 21/8/2019 đứng tên Trương Thị Lọ L.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các loại văn bản tố tụng đúng quy định cho chị Lọ L (thông qua anh Thái Công Th – chồng chị Lọ L) nhưng chị không đến Tòa án làm việc nên không lấy được lời khai và cũng không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành đúng quy định Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Lọ L vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ việc.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về giải quyết vụ án, Hợp đồng ký kết giữa hai bên đảm bảo về mặt hình thức, chủ thể ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng thể hiện sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tuy nhiên bà Trương Thị Lọ L đã không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán là vi phạm hợp đồng. Do đó việc Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc bà Trương Thị Lọ L trả cho ngân hàng tổng số tiền là 18.253.062 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/08/2022 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ; Tiếp tục duy trì Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Trương Thị Lọ L để đảm bảo cho việc thi hành án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bà Trương Thị Lọ L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ các Điều 309, 314, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.
Buộc bà Trương Thị Lọ L trả cho ngân hàng tổng số tiền là 18.253.062 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 11/08/2022 cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Tiếp tục duy trì Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với bà Trương Thị Lọ L để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí: Bà Trương Thị Lọ L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
Thời hiệu khởi kiện: Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC được ký kết giữa Ngân hàng với chị Lọ L ngày 24/6/2020, thời hạn vay: 180 ngày, giải ngân từ ngày 24/6/2020, đến hạn 21/12/2020. Ngày 06/12/2021, Ngân hàng khởi kiện do chị Lọ L vi phạm hợp đồng là còn thời hiệu tại Điều 429 Bộ luật dân sự.
Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản (hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố) với bị đơn là chị Trương Thị Lọ L; Địa chỉ: Tổ 5, khóm L1, phường L2, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Trương Thị Lọ L được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
*Về nội dung:
Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K với chị Trương Thị Lọ L được lập thành văn bản và ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Vốn vay: Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng và giải ngân, chị Lọ L vay và nhận tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Sau khi vay, chị Lọ L đã thanh toán cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC, tính đến ngày 22/7/2020, với số tiền 2.800.000 đồng, trong đó: vốn gốc là 2.615.890 đồng, lãi trong hạn là 184.110 đồng.
Như vậy, Ngân hàng yêu cầu chị Lọ L phải trả nợ gốc 12.384.110 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự. Xét, chấp nhận.
Tiền lãi: Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020, Ngân hàng và chị Lọ L đã có thỏa thuận về mức lãi suất, cách tính lãi, ngày thanh toán tiền lãi và trường hợp chuyển nợ quá hạn. Cụ thể: Lãi suất cho vay 16%/năm (lãi gộp); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Căn cứ theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Việc thỏa thuận mức lãi suất, cách tính lãi suất nêu trên do Ngân hàng và chị Lọ L tự thỏa thuận đã được thực hiện đúng quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và sự thỏa thuận giữa các đương sự phù hợp theo quy định tại Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Ngân hàng yêu cầu chị Lọ L phải thanh toán tổng số nợ lãi 5.868.952 đồng (trong đó lãi trong hạn 999.452 đồng; lãi quá hạn 4.869.500 đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố từ ngày 11/08/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ vay (có bảng kê chi tiết tính lãi của Ngân hàng đối với khoản nợ của chị Lọ L). Xét, chấp nhận.
Buộc chị Trương Thị Lọ L có trách nhiệm trả vốn gốc và tiền lãi cho Ngân hàng, cụ thể:
- Tiền lãi: 5.868.952 (năm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm năm mươi hai) đồng (trong đó lãi trong hạn 999.452 đồng; lãi quá hạn 4.869.500 đồng) (tính từ ngày 22/7/2020 đến ngày 11/08/2022);
- Vốn gốc: 12.384.110 (mười hai triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn một trăm mười) đồng.
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
Về tài sản cầm cố: Để đảm bảo cho khoản vay, chị Lọ L đã cầm cố 01 xe máy 02 bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, dung tích xi lanh 109, màu Trắng – Đen – Bạc, số máy: JA39E1127373, số khung: Y266228, biển kiểm soát 67H1-659.31 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 055485 do Công an thị xã T, tỉnh An Giang cấp ngày 21/8/2019 đứng tên chị Trương Thị Lọ L (Hợp đồng tín dụng kiêm Hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020 được ký kết giữa Ngân hàng với chị Lọ L) theo quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự.
Ngân hàng yêu cầu duy trì hợp đồng cầm cố để đảm bảo thi hành án là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 314 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Xét, chấp nhận.
Án phí: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Chị Lọ L phải chịu 912.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 309, khoản 2 Điều 314, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147, khoản 2 Điều 227 Điều 271, Điều 273, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản” đối với chị Trương Thị Lọ L;
Buộc chị Trương Thị Lọ L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K:
- Tiền lãi: 5.868.952 (năm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm năm mươi hai) đồng (trong đó lãi trong hạn 999.452 đồng; lãi quá hạn 4.869.500 đồng) (tính từ ngày 22/7/2020 đến ngày 11/08/2022);
- Vốn gốc: 12.384.110 (mười hai triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn một trăm mười) đồng.
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
Duy trì Hợp đồng tín dụng kiêm Hợp đồng cầm cố số A1070096/HĐTD-CC ngày 24/6/2020 được ký kết giữa Ngân hàng với chị Lọ L.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Trương Thị Lọ L phải chịu 912.000 đồng (chín trăm mười hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 406.000 (bốn trăm lẻ sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số TU/2019/0006088 ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của chị Lọ L là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TX. T (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Hội thẩm nhân dân (2); - CC.THADS TX. T (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dương |