vanban.org

Bản án 18/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn T.

Buộc bà Đào Thị L thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T(Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ) theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 với tổng số tiền là… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 11 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2022/DS-ST
Ngày: 15-8-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Kéo và ông Hồ Quang Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun, là Thư ký TAND huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thơm, chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 232/2021/TLST-DS, ngày 28/12/2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-DS, ngày 28/6/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2022/QĐST-DS, ngày 27/7/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn T; Địa chỉ: số 266-268 Nam Kỳ Khởi N, phường 8, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ. (Theo văn bản ủy quyền số 3977/2020/GUQ-PL ngày 28/12/2020)

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đức T - Phó Trưởng phòng giao dịch C (Theo văn bản ủy quyền số 77A/2021/GUQ-CNĐNO ngày 22/3/2021) - Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Đào Thị L (vắng mặt)

Địa chỉ: Bon C, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2021 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 22/12/2021), quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền lại của Nguyên đơn – ông Nguyễn Đức T trình bày:

Ngày 07/12/2017, bà Đào Thị L có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Sài Gòn T - Chi nhánh Đ - Phòng Giao dịch C (Ngân hàng), chi tiết như sau:

- Theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017; Số tiền vay: 150.000.000 đồng; Dư nợ hiện tại: 129.993.888 đồng (Một trăm hai mươi chín triệu chín trăm chín mươi ba nghìn tám trăm tám mươi tám đồng). Thời hạn vay là 60 tháng; Lãi suất 03 tháng đầu tiên 12%/năm. Lãi suất kể từ tháng thứ 4 trở đi kể từ ngày nhận nợ, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay sẽ được Sacombank điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ VNĐ (LV13) cộng biên độ 4,4%/năm và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần. Trường hợp chậm trả gốc bên được cấp tín dụng phải chịu 150% lãi suất trong hạn theo quy định; trường hợp chậm trả lãi bên được cấp tín dụng chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Hoàn trả khoản tín dụng gốc 05 kỳ: hàng năm trả 20.000.000 đồng vào ngày 08, kỳ trả gốc đầu tiên vào ngày 08/10/2018, riêng kỳ cuối trả vào ngày 08/4/2022 là 70.000.000 đồng; kỳ trả lãi: 05 kỳ, mỗi kỳ 12 tháng kể từ ngày nhận tiền vay. Thời điểm trả hết nợ ngày 08/12/2022.

Để bảo đảm cho món vay, bên vay đã thế chấp tài sản hợp pháp của mình gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo thửa đất số 187 tờ bản đồ số 15, diện tích: 7.616 m2, tọa lạc tại Bon C, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; đất trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 237912 số vào sổ cấp giấy GCN HĐ 060827 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 01/8/2007 cho ông Bùi Văn H và bà Đào Thị L, được cập nhật nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 28/12/2015 cho người thừa kế bà Đào Thị L. Tài sản trên được thực hiện theo Hợp đồng thế chấp số 574/17/TCCJ ngày 07/12/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh Đăk Nông và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai K, tỉnh Đăk Nông theo đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Đào Thị L chỉ thanh toán cho Ngân hàng gốc là 20.006.112 đồng và số tiền lãi 18.075.617 đồng vào ngày 08/12/2018, tổng số tiền là 38.081.729 đồng (Ba mươi tám triệu không trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm hai mươi chín đồng). Do vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn kể từ ngày 08/12/2019.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn yêu cầu bà Đào Thị L phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/ LD1734200537 ngày 08/12/2017 tính đến ngày xét xử ngày 15/8/2022 với tổng số tiền là 199.558.455 đồng, trong đó số tiền gốc 129.993.888 đồng, tiền lãi trong hạn là 44.437.000 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 17.856.385 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 7.271.182 đồng.

Kể từ ngày 16/8/2022 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/ LD1734200537 ngày 08/12/2017.

Trường hợp Bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 574/17/TCCJ ngày 07/12/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh Đăk Nông và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai K, tỉnh Đăk Nông để thu hồi nợ.

Trường hợp toàn bộ số tài sản thế chấp sau khi xử lý phát mãi mà không đủ để trả nợ thì Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền nợ còn thiếu cho Nguyên đơn.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Đào Thị L phải chịu toàn bộ.

Về án phí: Bà Đào Thị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

* Bị đơn bà Đào Thị L vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật; bị đơn chấp hành không đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Buộc bà Đào Thị L thanh toán thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T– Chi nhánh Đ) theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 với tổng số tiền là 199.558.455 đồng, trong đó số tiền gốc 129.993.888 đồng, tiền lãi trong hạn là 44.437.000 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 17.856.385 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 7.271.182 đồng tính đến ngày 15/8/2022.

Kể từ ngày 16/8/2022 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi suất.

Trường hợp Bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T– Chi nhánh Đ) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 574/17/TCCJ ngày 07/12/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh Đăk Nông và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai K, tỉnh Đăk Nông để thu hồi nợ, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 187 tờ bản đồ số 15; Tọa lạc tại Bon C,xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; diện tích: 7.616 m2 đất trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 237912 số vào sổ cấp giấy GCN HĐ 060827 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 01/8/2007 cho ông Bùi Văn H và bà Đào Thị L, được cập nhật nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 28/12/2015 người thừa kế bà Đào Thị L.

Trường hợp toàn bộ số tài sản thế chấp sau khi xử lý phát mãi mà không đủ để trả nợ thì Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền nợ còn thiếu cho Nguyên đơn. Nếu tài sản thế chấp thừa thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Bị đơn đối với Nguyên đơn thì Nguyên đơn phải trả lại số tiền thừa cho Bị đơn.

Về các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Ngân hàng TMCP Sài Gòn T khởi kiện bà Đào Thị L phải thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi theo hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/ LD1734200537 ngày 08/12/2017. Vì vậy đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bà Đào Thị L sinh sống làm việc tại bon C, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Krông Nô theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 173, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua xác minh tại địa phương bà L và con Bùi Thanh N, Bùi Thanh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bon C, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, chồng của bà L là ông Bùi Văn H đã chết ngày 07/10/2013, hiện nay bà L chưa đăng ký kết hôn với ai, hiện nay vắng mặt tại địa phương, đi làm ăn đâu không rõ, khi đi không khai báo với chính quyền địa phương, bà L không thay đổi nơi cư trú, không thông báo tạm vắng tại địa phương, không thông báo địa chỉ nơi cư trú mới cho Nguyên đơn, vì vậy chính quyền địa phương và Nguyên đơn không xác định được nơi sinh sống và làm việc hiện nay của bà L. Bà Đào Thị L không đến Tòa án làm việc, không có văn bản hay có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà L.

. Về yêu cầu thanh toán nợ theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/ LD1734200537 ngày 08/12/2017:

. Về chủ thể, nội dung hợp đồng:

Căn cứ vào hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 đã xác định được Ngân hàng TMCP Sài Gòn T cho bà Đào Thị L vay số tiền nợ gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay đầu tư sản xuất nông nghiệp; Thời hạn vay 60 tháng, thời hạn trả nợ gốc chia làm 05 kỳ, mỗi kỳ 12 tháng, thời điểm trả hết nợ vào ngày 08/4/2022, thời hạn trả lãi làm 05 kỳ, mỗi kỳ 12 tháng; Lãi suất ba tháng đầu tiền là 12%/năm, kể từ tháng thứ 4 trở đi lãi suất sẽ được điều chỉnh theo điều khoản lãi suất của hợp đồng tín dụng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng thể hiện dưới hình thức văn bản, thể hiện sự tự nguyện, tự thỏa thuận giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T và bên vay là bà L. Hợp đồng tín dụng đã thể hiện rõ về mức cho vay, phương thức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, trả nợ gốc và lãi vốn vay, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay; bên vay… đúng theo quy đinh tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 13; Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016.

. Về yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc:

Theo hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 thì bà Đào Thị L vay tổng số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Tại hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 thể hiện Nguyên đơn có quyền thu hồi nợ trước thời hạn nếu bên được cấp tín dụng vi phạm nội dung hợp đồng tín dụng. Theo phân kỳ trả nợ của Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017, thời điểm bà L có nghĩa vụ thanh toán nợ số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng vào các đợt của ngày 08/10/2019, ngày 08/10/2020 và ngày 08/10/2021. Do bà L không thanh toán được số tiền nợ gốc vào các đợt của ngày 08/10/2019, ngày 08/10/2020, ngày 08/10/2021 và ngày 08/4/2022. Mặt khác hiện nay bà L vắng mặt tại địa phương. Vì vậy Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền nợ gốc 129.993.888 đồng là có cơ sở nên cần chấp nhận.

. Đối với yêu cầu tính tiền lãi trong hạn:

Tại Điều 5 Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Điều 3 Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 và mục 4 của Giấy nhận nợ 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 thể hiện thời điểm Ngân hàng giải ngân cho bà L thì lãi suất 03 tháng đầu là 12%/năm, kể từ tháng thứ 4 trở đi lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ VNĐ(LV13) + biên độ 4,4%/năm và được điều chỉnh định ký 03 tháng/lần. Kỳ trả lãi: trả lãi cuối kỳ (nếu ngày trả lãi rơi vào các ngày nghỉ, ngày lễ thù ngày thu lãi được thỏa thuận là ngày làm việc tiếp theo).

Tính đến ngày 15/8/2022, tổng số tiền lãi trong hạn mà bà L có nghĩa vụ thanh toán là 62.512.617 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà L chỉ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi trong hạn là 18.075.617 đồng, số tiền lãi trong hạn phải thanh toán là 44.437.000 đồng.

. Đối với yêu cầu tính tiền lãi quá hạn:

Tại mục 5.3 Điều 5 của Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 thể hiện trường hợp Bị đơn không thanh toán đúng hạn và đầy đủ thì Nguyên đơn có quyền chuyển toàn bộ số dư nợ thực tế còn lại sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% mức lãi suất trong hạn.

Theo phân kỳ trả nợ của hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 thời điểm bà L có nghĩa vụ thanh toán nợ số tiền nợ gốc mỗi kỳ 20.000.000 đồng vào ngày 08/10/2019, ngày 08/10/2020, ngày 08/10/2021 và kỳ cuối nộp số tiền 70.000.000 đồng vào ngày 08/4/2022. Do Bị đơn không thanh toán được, vì vậy Nguyên đơn chuyển số tiền nợ gốc của hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 là 129.993.888 sang nợ quá hạn là đúng với thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên Nguyên đơn chỉ yêu cầu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc 59.993.888 đồng của 03 kỳ theo đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017, Số tiền lãi quá hạn phải thanh toán là 17.856.385 đồng.

. Đối với yêu cầu tính tiền lãi chậm thanh toán lãi: Tại mục 5.4 Điều 5 của Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 có thể hiện mức lãi suất chậm thanh toán lãi là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trong số tiền lãi trong hạn mà Bị đơn chậm thanh toán là 44.437.000 đồng. Do vậy Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 44.437.000 đồng với mức lãi suất 10%/năm là 7.271.182 đồng.

Xét yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi trong hạn, tiền nợ lãi quá hạn, tiền chậm trả lãi của Nguyên đơn đối với Bị đơn theo hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 thể hiện cụ thể tại bảng kê tính lãi được lập ngày 15/8/2022 là có cơ sở, đúng thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần buộc Bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn tổng số tiền là 129.993.888 đồng + 44.437.000 đồng + 17.856.385 đồng + 7.271.182 đồng = 199.558.455 đồng.

. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 574/17/TCCJ ngày 07/12/2017 thể hiện: Bị đơn thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 237912 số vào sổ cấp giấy GCN HĐ 060827 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 01/8/2007 cho ông Bùi Văn H và bà Đào Thị L, được cập nhật nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 28/12/2015 Người thừa kế bà Đào Thị L thửa đất số 187 tờ bản đồ số 15, diện tích: 7.616 m2 đất trồng cây lâu năm; Tọa lạc tại B, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông.

Việc thế chấp được thực hiện theo Hợp đồng thế chấp số 574/17/TCCJ ngày 07/12/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn N, tỉnh Đăk Nông và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai K, tỉnh Đăk Nông theo đúng quy định.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/4/2022, thể hiện quyền sử dụng đất mà Bị đơn thế chấp cho Nguyên đơn đúng với hiện trạng thực tế, thửa đất trên hiện nay do Bị đơn đang quản lý, sử dụng.

Xét thấy việc Bị đơn thế chấp quyền sử dụng đất nói trên để đảm bảo cho khoản tiền vay thực hiện theo hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017. Vì vậy, trường hợp Bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Trường hợp toàn bộ số tài sản thế chấp sau khi xử lý phát mãi mà không đủ để trả nợ thì Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền nợ còn thiếu cho Nguyên đơn. Nếu tài sản thế chấp thừa thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Bị đơn đối với Nguyên đơn thì Nguyên đơn phải trả lại số tiền thừa cho Bị đơn.

Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 237912 số vào sổ cấp giấy GCN HĐ 060827 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 01/8/2007 cho ông Bùi Văn H và bà Đào Thị L, được cập nhật nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 28/12/2015 người thừa kế bà Đào Thị L thửa đất số 187 tờ bản đồ số 15, diện tích: 7.616 m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại B, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông khi Bị đơn thanh toán xong các khoản nợ cho Nguyên đơn.

. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận, vì vậy Bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Do Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) vì vậy Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đắk Nông) số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà Bị đơn không thanh toán hết số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ thì hàng tháng còn phải chịu một khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

. Về án phí: Căn cứ tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của NQ 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Đào Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 199.558.455 đồng x 5% = 9.977.000 đồng (làm tròn). Bà Đào Thị L có nghĩa vụ nộp số tiền 9.977.000 đồng (Chín triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ) số tiền 4.538.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ba mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (người nộp tiền Vũ Đình L) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo biên lai số 0003126, ngày 24/12/2021.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 235; Điều 147; Điều 155 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 91, 95 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 13; Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016; Áp dụng các Điều 410, Điều 418, Điều 429, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn T.

1. Buộc bà Đào Thị L thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T(Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ) theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017 với tổng số tiền là 199.558.455 đồng (Một trăm chín mươi chín triệu năm trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng), trong đó số tiền gốc 129.993.888 đồng, tiền lãi trong hạn là 44.437.000 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 17.856.385 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 7.271.182 đồng tính đến ngày 15/8/2022.

Kể từ ngày 16/8/2022 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cấp tín dụng số 574/17/HĐCTD ngày 07/12/2017, Hợp đồng cho vay số LD1734200537 ngày 08/12/2017 kèm Giấy nhận nợ số 01/LD1734200537 ngày 08/12/2017. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi suất.

Nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 237912 số vào sổ cấp giấy GCN HĐ 060827 do Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cấp ngày 01/8/2007 cho ông Bùi Văn H và bà Đào Thị L, được cập nhật nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 28/12/2015 Người thừa kế bà Đào Thị L thửa đất số 187 tờ bản đồ số 15, diện tích: 7.616 m2 đất trồng cây lâu năm; Tọa lạc tại Bon Choih, xã Đức Xuyên, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông khi Bị đơn thanh toán xong các khoản nợ cho Nguyên đơn.

Trường hợp Bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 574/17/TCCJ ngày 07/12/2017 để thu hồi nợ, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 187 tờ bản đồ số 15, diện tích: 7.616 m2 đất trồng cây lâu năm; Tọa lạc tại B, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số AK 237912 số vào sổ cấp giấy GCN HĐ 060827 do Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô cấp ngày 01/8/2007 cho ông Bùi Văn Hạ và bà Đào Thị L, được cập nhật nội dung thay đổi cơ sở pháp lý ngày 28/12/2015 Người thừa kế bà Đào Thị L.

Trường hợp toàn bộ số tài sản thế chấp sau khi xử lý phát mãi mà không đủ để trả nợ thì Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền nợ còn thiếu cho Nguyên đơn. Nếu tài sản thế chấp thừa thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Bị đơn đối với Nguyên đơn thì Nguyên đơn phải trả lại số tiền thừa cho Bị đơn.

2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đắk Nông) số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà Bị đơn không thanh toán hết số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ thì hàng tháng còn phải chịu một khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Bà Đào Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 9.977.000 đồng. (Chín triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (Đại diện nhận tiền là Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ) số tiền 4.538.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ba mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (người nộp tiền Vũ Đình L) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo biên lai số 0003126, ngày 24/12/2021.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ