- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất mấ túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HSST Ngày 08 tháng 4 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Trung Thành
2. Bà Đặng Thị Liễu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Khương Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thanh- Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 4 năm 2021, tại nhà văn hóa UBND xã Xuân Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2021/HSST ngày24 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2021/QĐ-TA ngày 24/3/2021 đối với bị cáo:
Dương Văn L, sinh ngày 15/11/1991; Nơi đăng ký NKTT: thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú:thôn H, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá:12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1971; vợ: Kiều Thị Thanh H, sinh năm 1992; con: có 02 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015;tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Kiều Thị Thanh H, sinh năm 1982; trú tại: thôn H, xã X, huyện L, Vĩnh Phúc (vắng mặt); ông Khổng Đình T, sinh năm 1971; trú tại: thôn H, xã X, huyện L, Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên sáng ngày 21/12/2020, Dương Văn L đi bộ một mình từ nhà đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Lập Thạch tìm mua ma túy để bán kiếm lời. L gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, địa chỉ mua được 03 gói ma túy với giá 300.000đ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi L đang một mình ở nhà thuê của ông Khổng Đình T, tại thôn H, xã X, huyện Lập Thạch thì có nam thanh niên tự khai là Lê Hoàng C ở xã N, huyện L đi bộ một mình đến hỏi mua 01 gói ma túy với giá 200.000đ, L đồng ý và bảo C vào ngồi ở bàn uống nước phòng khách nhà L. Tại đây, C đưa cho L 200.000đ (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000đ), L cầm tiền cất vào túi áo khoác đang mặc, đồng thời lấy trong túi áo khoác ra 01 túi nilon bên trong có 03 gói nhỏ ma túy và lấy 01 gói nhỏ ma túy đưa cho C. C cầm gói ma túy rồi đi bộ một mình đến khu vực bụi chuối thuộc khu vực Tổ dân phố P,thị trấn L để sử dụng. Khi C đang sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Lập Thạch phát hiện, lập biên bản. Thu giữ tại mặt đất vị trí C đang đứng 01 mẩu giấy bạc màu vàng trắng có bám dính chất bột màu trắng C khai là mẩu giấy gói ma túy vừa mua của Dương Văn L được niêm phong ký hiệu A1, 01 mẩu giấy bạc đã qua lửa đốt, 01 bật lửa ga, thu trong túi áo khoác C đang mặc 01 mẩu giấy có ghi các số 1934, 1789, 5888 C khai là các số cuối dãy seri 03 tờ tiền dùng để mua ma túy của L.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Dương Văn L, thu giữ tại mặt bàn trong phòng sinh hoạt chung của gia đình L: 01 túi nilon bên trong có 02 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu vàng có chứa chất bột cục màu trắng được niêm phong ký hiệu A2, L khai nhận là 2 gói ma túy heroin của L để bán kiếm lời; số tiền 1.850.000đ trong đó có 01 tờ mệnh giá 100.000đ có số seri 10945888, 02 tờ mệnh giá 50.000đ có số seri 17851934 và 14531789 L khai nhận là tiền vừa bán ma tuý cho C mà có và một số vật chứng khác.
Tại Bản kết luận giám định số 3288/KLGĐ ngày 25/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“1 Chất bột bám dính màu trắng trên bề mặt 01 (một) mảnh giấy bạc màu vàng trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
2. Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2608g (không phẩy hai sáu không tám gam, không kể bao bì), loại Heroine”.
Cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật A1 = 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng, A2 = 0,2137g cùng toàn bộ bao gói.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Dương Văn L tại khu vực cổng
Trung Tâm y tế huyện Lập Thạch nhưng L không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có thông tin để xác minh điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với đối tượng tự khai là Lê Hoàng C ở xã N, huyện L. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an, C bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã xác minh trên địa bàn xã N nhưng không xác định được người có lai lịch như C tự khai nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Khổng Đình T ở thôn H, xã X, huyện L là chủ nhà cho gia đình L thuê và chị Kiều Thị Thanh H vợ L không biết việc L bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với vật chứng thu giữ:
Mẫu vật A1 là 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng; A2 = 0,2608g heroine, Cơ quan giám định hoàn lại A2 = 0,2137g là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
01 mẩu giấy bạc đã qua lửa đốt, 01 bật lửa ga đã cũ của Lê Hoàng C dùng để sử dụng ma tuý cần tịch thu tiêu huỷ.
01 mảnh giấy trắng có ghi các số 1934, 1789, 5888 của Lê Hoàng C là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Số tiền 200.000đ là tiền Dương Văn L có được do bán ma túy mà có cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 1.650.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ đen có số Imei 861570043379197 của Dương Văn L không liên quan đến vụ án nên cần xem xét trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Quá trình điều tra, bị cáo Dương Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 22 tháng 02 năm 2021 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố bị cáoDương Văn L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Dương Văn L. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn L.
Xử phạt: Bị cáo L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án,căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 21/12/2020, tại nơi ở của mình thuộc thôn H, xã X, huyện L, Dương Văn L đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy (heroine) với giá 200.000đ cho đối tượng Lê Hoàng C. Sau đó, C đi đến khu vực TDP P, thị trấn L sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch kiểm tra, lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng là một mảnh giấy bạc có bám dính chất bột màu trắng giám định là heroine và một số vật chứng khác có liên quan. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lập Thạch tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, tài sản của Dương Văn L thu giữ 02 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng giám định là heroine có khối lượng 0,2608g của L để bán kiếm lời.
Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập theo trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo Dương Văn L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
Do đó bản cáo trạng số:17/CT-VKS, ngày 22/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Dương Văn L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết xem xét giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Bản án số 45 ngày 27/9/2016, Toà án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 02 năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/02/2018, đã chấp hành xong các quyết định của bản án ngày 12/12/2016, đến ngày phạm tội 21/12/2020 đã được xoá án tích bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật
hình sự quy định: “ Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ…”. Tuy nhiên bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Lê Hoàng C ở xã N, huyện L. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an, Công bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã xác minh trên địa bàn xã N nhưng không xác định được người có lai lịch như C tự khai nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Khổng Đình T ở thôn H, xã X, huyện L là chủ nhà cho gia đình L thuê và chị Kiều Thị Thanh H vợ L không biết việc L bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại: A1 là 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng; A2 = 0,2137g heroine và toàn bộ bao gói. 01 mẩu giấy bạc đã qua lửa đốt, 01 bật lửa ga đã cũ của Lê Hoàng C dùng để sử dụng ma tuý cần tich thu tiêu hủy.
01 mảnh giấy trắng có ghi các số 1934, 1789, 5888 của Lê Hoàng C là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 200.000đ là tiền Dương Văn L có được do bán ma túy mà có.
Trả lại cho Dương Văn L 1.650.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ đen có số Imei 861570043379197 đã cũ đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Dương Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Dương Văn L.
Xử phạt: Bị cáoDương Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2020.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy Mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại: A1 là 01 mảnh giấy bạc màu vàng trắng; A2 = 0,2137g heroine và toàn bộ bao gói. 01 mẩu giấy bạc đã qua lửa đốt, 01 bật lửa ga đã cũ.
01 mảnh giấy trắng có ghi các số 1934, 1789, 5888 của Lê Hoàng C là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu trong hồ sơ vụ án.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 200.000đ là tiền Dương Văn L có được do bán ma túy mà có.
Trả lại cho Dương Văn L 1.650.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ đen có số Imei 861570043379197 đã cũ đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch và Chi cục thi hành án huyện Lập Thạch).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo Dương Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết tại Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của người vắng mặt.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; -Viện kiểm sátnhân dân huyện LậpThạch; -Chi cụcThihành ánhuyệnLậpThạch; -Công anhuyện LậpThạch; -Trại tạm giam Công antỉnhVĩnhPhúc; -Uỷ ban nhândân xãXuân Hòa; -Bị cáo; -Ngườicó quyền lợi nghĩa vụ liênquan; -Lưu: hồsơ,án văn. | Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (đã ký tên và đóng dấu) TrầnThị Huệ |