vanban.org

Bản án 18/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Phạm Xuân H cho UBND xã Đ K, huyện Đ H, tỉnh Thái Bình giám sát trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về án phí: Áp dụng điể m h khoả n Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phạm Xuân H cho UBND xã Đ K, huyện Đ H, tỉnh Thái Bình giám sát trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HSPT
Ngày 24-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- TH3nh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến

Các thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà

Ông Vũ Duy Luân

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2021/HSPT ngày 21 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Phạm Xuân H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 173/2020/HSST ngày 16/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Phạm Xuân H, sinh năm 1976

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K N, xã Đ K, huyện Đông H, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Phạm Xuân K và bà Quách Thị H; vợ là Nguyễn Thị Th và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/8/2020 đến ngày 31/8/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Trong vụ án có 4 bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/8/2020, sau khi cùng nhau ăn sáng Phạm Xuân H đã rủ Lại Thị L, Đào Quốc H1, Vũ Bình Gi và Bùi Đức Tr chơi phỏm, mọi người đều hiểu ý H là rủ đánh bài thắng thua bằng tiền nên tất cả đều đồng ý. L rủ mọi người về nH3 chị gái L để chơi phỏm, mọi người đồng ý nên cùng nhau đến nH3 chị gái L (chị Lại Thị Ph) tại số nH3 36, ngõ 537, đường L Th T, tổ 19, phường Qu Tr, thành phố Thái Bình để chơi bài (do L đang trông coi nhà hộ chị Ph). H, H1, L đi bộ về nhà chị Ph trước, còn Tr, Gi có việc nên đến sau. Do ở nH3 không có bài tú lơ khơ nên L nói với H3 đi mua hộ bộ bài, H3 biết các đối tượng rủ nhau đánh bạc nên H3 đồng ý và trên đường đi bộ đến nhà chị Ph, H3 đã mua 02 bộ bài tú lơ khơ và mang đến nhà chị Ph. Khi H3 đến thấy có H, H1, L đang ở bàn uống nước tại phòng khách, H3 cầm bộ bài tú lơ khơ vào trong phòng ngủ tại tầng một để trên chiếu nhựa đã trải sẵn từ trước. Khi Gi đến thì bốn người H, Gi, H1 và L ngồi xuống chiếu để đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm, H3 được L nhờ đi ra khóa cổng và các cửa ra vào của nhà chị Ph lại rồi vào ngồi trên giường cạnh chỗ các đối tượng đánh bạc.

H, Gi, H1, L thống nhất chơi như sau: Dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân chia đều cho mỗi người cùng chơi 09 quân bài, riêng người chia bài được 10 quân bài, số còn lại để vào giữa bàn để làm “lọc”. Người chia bài là người được đánh trước theo thứ tự từ trái qua phải. Người chơi góp bài mình thành phỏm bằng cách nhận bài của người vừa đánh ngồi trước theo vòng đánh hoặc bốc từ lọc. Một phỏm được quy định từ 3 quân bài trở lên cùng số hoặc cùng chất và có số thự tự liên tiếp. Ván bài kết thúc khi bốc hết bài ở lọc hoặc có người “Ù”. Khi ván bài kết thúc mà không có ai “Ù” thì 04 người chơi hạ phỏm xuống rồi cộng điểm những quân bài còn lại và so sánh với nhau. Khi tính điểm thì quân “J” là tính 11 điểm, quân “Q” được tính là 12 điểm, quân “K” được tính là 13 điểm, quân “A” được tính là 1 điểm. Nếu số điểm bằng nhau thì ai hạ bài trước sẽ thắng. Người ít điểm nhất là người thắng tiền ván bài đó; người ít điểm thứ 2 phải trả 100.000 đồng; người ít điểm thứ 3 phải trả 200.000 đồng; người nhiều điểm nhất phải trả 300.000 đồng cho người thắng. Trường hợp người nào bị “cháy” (nghĩa là không phỏm) thì phải trả 400.000 đồng. Nếu số điểm bằng nhau ai hạ trước bài là người thắng. Nếu ai thắng “Ù” nghĩa là ghép 9 quân bài thành các phỏm thì 03 người thua mỗi người phải trả 500.000 đồng. Cứ như vậy sau khi thanh toán tiền xong thì lại bắt đầu ván chơi mới. Ngoài ra còn quy định ba ván bài “Ù” đầu tiên, người nào có ván bài “Ù” thì phải bỏ ra 100.000 đồng đưa cho L cầm để mua cơm trưa.

Mọi người chơi khoảng 30 phút thì Tr đến gọi cửa nên L báo cho H3 ra mở cửa cho Tr, rồi H3 lại lần lượt khóa các cửa lại. Tr ngồi vào xem đánh bạc một lúc thì L nhường chỗ của L cho Tr chơi, còn L lên giường ngồi xem đánh bài. Tr, H, H1, Gi đánh đến 11 giờ 15 phút cùng ngày thì H không chơi nữa nên ra về trước, L thay thế chỗ của H1, H3 ra mở cửa cho H1 về rồi lại khóa cổng lại. L, H, Tr, Gi tiếp tục ngồi chơi bài đến 12 giờ 30 phút cùng ngày thì L bảo H gọi điện thoại để đặt 06 xuất cơm. L đưa cho H3 500.000 đồng để ra lấy cơm, khi H3 mở cửa ra lấy cơm thì bị Công an thành phố vào kiểm tra H3nh chính và phát hiện Phạm Xuân H, Lại Thị L, Bùi Đức Tr, Vũ Bình Gi đang đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 3.900.000 đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chăn vải màu xanh – trắng – đen. Quản lý trên người của Phạm Xuân H số tiền 25.500.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 6 plus, màu xám, 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng, quản lý của Vũ Bình Gi số tiền 13.700.000 đồng, 01 ví giả da màu nâu, đã qua sử dụng, quản lý của Bùi Đức Tr số tiền 11.900.000 đồng và 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng, quản lý của Lại Thị L số tiền 4.100.000 đồng và của Nguyễn Thị Thu H3 số tiền 500.000 đồng. Các bị cáo khai nhận tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 61.300.000 đồng. Cụ thể như sau:

- Phạm Xuân H mang theo 27.800.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc không rõ thắng thua. Khi bị lực lượng Công an kiểm tra đã thu giữ trên người H số tiền 25.500.000 đồng và 1 điện thoại di động Iphone 6 plus, màu xám đã qua sử dụng.

- Vũ Bình Gi mang theo 13.700.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh không rõ thắng thua. Khi bị lực lượng công an kiểm tra đã thu giữ trên người Gi số tiền 13.700.000 đồng trong đó 3.200.000 đồng ở túi quần phía trước bên phải và 10.500.000 đồng trong ví da màu nâu.

- Lại Thị L mang theo 4.600.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc không rõ thắng thua. Khi bị lực lượng Công an kiểm tra đã thu giữ trên người L số tiền 4.100.000 đồng. Ngoài ra, L đã đưa cho H3 500.000 đồng để trả tiền cơm, trong đó có 300.000 đồng của 3 ván “Ù” đầu tiên góp để mua cơm.

- Đào Quốc H1 mang theo 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc bị thua số tiền 1.300.000 đồng thì không chơi nữa, đi về trước. H1 đã tự nộp cho cơ qua công an số tiền 1.700.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2020/HSST ngày 16/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp H3nh hình phạt.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định pháp luật.

Ngày 16/12/2020 bị cáo Phạm Xuân H kháng cáo xin giảm hình phạt và xin cải tạo tại địa phương.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo thành khẩn khai nhận và ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình, trở thành người có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo H đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e, khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm, cho bị cáo hưởng án treo.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo H thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Ngày 22/8/2020, tại số nH3 36, ngõ 537, đường L Th T, tổ 19, phường Qu Tr, thành phố Th B Phạm Xuân H cùng Lại Thị L, Đào Quốc H1, Vũ Bình Gi và Bùi Đức Tr đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền; tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 61.300.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân H thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Phạm Xuân H là người rủ rê và sử dụng số tiền 27.800.000 đồng (nhiều nhất so với các bị cáo khác) để đánh. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo H giữ vai trò thứ nhất và xét xử bị cáo mức án 03 năm tù là có căn cứ, không có cơ sở để giảm hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, trong toàn bộ quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện khắc phục số tiền 10.000.000 đồng là tiền phạt bổ sung mà bản án sơ thẩm đã quyết định là thể hiện thái độ ăn năn và chấp hành pháp luật đối với hành vi phạm tội mình đã gây ra, nên bị cáo được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS. Hơn nữa, xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà vẫn có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Do đó cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị .

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân H, sửa phần hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 173/2020/HSST ngày 16/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, sửa biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Phạm Xuân H, cụ thể:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Phạm Xuân H cho UBND xã Đ K, huyện Đ H, tỉnh Thái Bình giám sát trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng điể m h khoả n

2 Điề u 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Bị cáo Phạm Xuân H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (24/3/2021).

Cỡ chữ