- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu S - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận háng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu S:
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HS - PT Ngày 27 – 5 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- TH phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Ông Đỗ Văn Hiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Th
Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đỗ Thị Hoà - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 24/2021/TLPT - HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Hữu S do có háng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2021/HS - ST ngày 11 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện K , tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu S, sinh ngày 26/6/1996 tại Gia Lai; Nơi th ờng trú: Thôn 2, xã P , huyện K , tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị P , bị cáo ch a có vợ, con. Tiền án: Có 01 tiền án, bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình D ơng ết án 30 (ba m ơi) tháng tù về tội “Cố gây th ơng tích” tại bản án số 195/2015/HSST ngày 28/10/2015, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nh ng ch a thi hành phần dân sự; Tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 07/7/2020, sau đó bị tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Trong vụ án này còn có 02 (hai) bị cáo hác nh ng hông có háng cáo, hông bị háng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 01/6/2020, Kiều Ngọc T , Kiều Tuấn Đ (là em ruột của T) và L ơng Văn N ăn sáng tại quán của gia đình Nguyễn Hữu Sang, tại thôn 2, xã P , huyện K . Tại đây, T rủ S: “Ngày mai đi vào rừng khai thác gỗ Bằng lăng trái phép với anh bán kiếm tiền” thì S đồng . Đến hoảng 18 giờ cùng ngày, S đi bộ qua nhà T chơi thì gặp T đang ngồi uống n ớc cùng Đ và N . Tại đây, T tiếp tục rủ S đi hai thác gỗ trái phép, T hẹn S sáng ngày mai tập trung tại nhà T để đi vào rừng.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại cho anh ruột là Kiều Ngọc C rủ S nhà T uống r ợu. Lúc này, C đang ngồi uống trà cùng Đinh Trung TH tại nhà riêng nên rủ TH cùng đi qua nhà T , khi C và TH qua nhà T thì thấy T , N đang ngồi uống r ợu thì vào tham gia cùng. Trong lúc uống r ợu, T nói: “Sáng nay, em và N đã cắt hạ một số cây gỗ Bằng lăng tại khu vực rừng xã Đăk Smar”. T rủ C và TH: “Sáng mai anh em mình vào rừng xẻ hộp các cây gỗ trên bán cho L1, Q1 lấy tiền tiêu xài”. C và TH đều đồng , T hẹn cả bọn sáng ngày mai qua nhà T để đi rừng.
Khoảng 07 giờ ngày 02/6/2020, Đ , N , Sang, C và TH tập trung tại nhà T , rồi T dẫn tất cả cùng đi theo đ ờng làng Tà Kơr, xã P vào lô 4, khoảnh 2, tiểu hu 122 lâm phần do Công ty TNHH MTV LN Lơ u quản l thuộc địa giới hành chính xã Đă Smar, Kbang để hai thác gỗ bằng lăng trái phép. Khi đi, T lái xe mô tô độ chế của T chở C và 01 c a xăng của T ; TH lái xe mô tô độ chế của TH chở theo 01 c a xăng của N ; Đ lái xe mô tô của Đ chở N mang theo 01 c a xăng của Đ và 01 con dao rựa còn S lái xe mô tô độ chế của S chở bao đựng xăng, nhớt, n ớc uống và vật dụng cần thiết do T chuẩn bị. Đến nơi, T chỉ 10 cây gỗ bằng lăng đã bị cắt hạ đổ xuống đất, T nói cả nhóm cắt lóng thân, cành theo quy cách dài 2 đến 2,2m rồi xẻ hộp, đối với gốc, ngọn cây gỗ bằng lăng thì tùy theo ích th ớc, đặc điểm tiến hành xẻ hộp tận dụng để thu đ ợc lợi gỗ nhất. Sau đó, T , Đ và TH mỗi ng ời dùng một c a xăng c a xẻ gỗ; C , S và N phụ bật mực, bắn lật gỗ, khai thác gỗ đến hoảng 10 giờ cùng ngày thì T nói C về xã P lấy 6 hộp cơm do T đặt tr ớc tại quán ăn của chị Kiều Thị G1 mang vào cho mọi ng ời ăn, sau đó tiếp tục c a, xẻ gỗ đến hoảng 18 giờ cùng ngày thì nghỉ đi về.
Khoảng 11 giờ ngày 03/6/2020, T cùng Đ , Sang, N , C , TH tiếp tục vào hu vực rừng trên để hai thác gỗ trái phép. Công việc của từng ng ời vẫn thực hiện nh ngày 02/6/2020, T , Đ , TH dùng c a xăng c a xẻ gỗ còn C , S và N phụ bật mực, bắn lật gỗ. Đến tr a, T nhờ Thái Đình D1 mang cơm vào cho nhóm của T ăn , sau đó nhóm của T tiếp tục hai thác gỗ đến hoảng 15 giờ cùng ngày thì T nghe điện thoại rồi nói với cả nhóm là “bị động rồi”. Nghe vậy, tất cả dọn đồ đạc đi về để lại toàn bộ số gỗ bằng lăng hai thác trái phép tại hiện tr ờng.
Kết quả điều tra xác định đ ợc, vào ngày 02 và 03/6/2020, T cùng đồng bọn đã hai thác trái phép 10 cây gỗ bằng lăng, có tổng hối l ợng gỗ tròn bị thiệt hại là: 23,236m3, loài thực vật thông th ờng thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên tại lô 4, hoảnh 2, tiểu hu 122 thuộc lâm phần quản l của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Lơ Ku, địa giới hành chính xã Đă Smar, huyện K , tỉnh Gia Lai. Gây thiệt hại về lâm sản 138.413.200 đồng, thiệt hại đối với rừng tự nhiên là 553.652.800 đồng.
Quá trình điều tra còn thu giữ vật chứng của vụ án gồm 28 hộp gỗ xẻ hối l ợng 5,381m3 theo ết luận giám định có giá trị là 36.712.640 đồng; 02 xe mô tô độ chế hông có số hung, số máy là xe mô tô của Đinh Trung TH và Nguyễn Hữu Sang.
Tại Bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 08/12/2020, của Viện iểm sát nhân dân huyện K đã truy tố Đinh Trung TH, Nguyễn Hữu S và Kiều Ngọc C về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d hoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự N 2015, đ ợc sửa đổi, bổ sung N 2017 (Sau đây gọi tắt là BLHS).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2021/HS - ST ngày 11 tháng 3 N 2021 của Tòa án nhân dân huyện K , tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu S phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".”.
- Áp dụng điểm d hoản 2 Điều 232, Điều 38, Điều 58; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; điểm h hoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo Nguyễn Hữu Sang.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu S 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/7/2020).
Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo TH 02 năm tù, C 02 năm 09 tháng tù về tội danh, điều hoản nêu trên; bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 17/3/2021, bị cáo Nguyễn Hữu S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung háng cáo.
Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Toà án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hữu S 03 (Ba) N tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản". Theo điểm d hoản 2 Điều 232 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, hình phạt là t ơng xứng, phù hợp, có tính phân hoá, đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa. Bị cáo háng cáo nh ng hông có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó hông chấp nhận háng cáo.
-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử hoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu S hai nhận hành vi phạm tội đúng nh bản án sơ thẩm đã nêu, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu hác có tại hồ sơ vụ án, đã đ ợc thẩm tra tại phiên toà. Đủ cơ sở hẳng định, vào ngày 02/6/6020 và ngày 03/6/2020, Nguyễn Hữu S cùng với các đồng phạm đã có hành vi hai thác trái phép 23,236m3 gỗ bằng lăng, loài thực vật thông th ờng thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, tại lô 4, hoảnh 2, tiểu hu 122 thuộc lâm phần quản l của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Lơ Ku, địa giới hành chính xã Đă Smar, huyện K , tỉnh Gia Lai. Gây thiệt hại về lâm sản 138.413.200 đồng, thiệt hại đối với rừng tự nhiên là 553.652.800 đồng. Với hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hữu S về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản", theo điểm d hoản 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng:
Trong vụ án này, bị cáo tham gia với vai trò là ng ời thực hành, phụ giúp bật mực, lật bẩy gỗ để cho các đồng phạm cắt lóng, xẻ hộp, bị cáo phạm tội thuộc tr ờng hợp tái phạm, hối l ợng gỗ mà bị cáo cùng đồng phạm hai thác trái phép là 23,236m3, trong hi định l ợng gỗ của hung hình phạt mà bị cáo đã phạm là từ 15m3 đến 30m3. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Ng ời phạm tội TH hẩn hai báo”, “Đầu thú” quy định tại điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của BLHS; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h hoản 1 Điều 52 của BLHS là đúng pháp luật, tại phiên toà bị cáo trình bày đã đi tìm ng ời bị hại trong vụ án mà tr ớc đây bị cáo đã bị ết án về tội “cố gây th ơng tích”, để bị cáo bồi th ờng về phần dân sự nh ng hông tìm đ ợc bị hại, vì vậy nên bị cáo ch a đ ợc xoá án tích đối với hành vi ết án lần này; Hội đồng xét xử xét thấy lời hai này của bị cáo thể hiện sự tích cực trong việc chấp hành bản án tr ớc của bị cáo, tuy nhiên, nh đã nêu, số l ợng gỗ mà bị cáo và đồng phạm đã hai thác trái phép là ở mức cao trong hung hình phạt, gây thiệt hại nghiêm trọng về môi tr ờng, vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 03 N tù là phù hợp, có tính phân hoá, t ơng xứng với vai trò, tính chất, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, đảm bảo tác dụng răn đe giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Bị cáo háng cáo nh ng hông có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên háng cáo hông đ ợc chấp nhận.
. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
. Bị cáo háng cáo hông đ ợc chấp nhận, nên phải chịu án phì hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Không chấp nhận háng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu S:
- Áp dụng điểm d hoản 2 Điều 232, Điều 38, Điều 58; điểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; điểm h hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu S 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản", thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/7/2020).
[2].Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b hoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Th ờng vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[3]. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND huyện K ; - Cơ quan CSĐT CA huyện K ; - VKSND huyện K ; - Chi cục THA DS huyện K ; -Trại tạm giam Công an tỉnh; - Bị cáo, Ng ời tham gia tố tụng khác; - L u: VT, hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Văn Bình |