vanban.org

Bản án 18/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2020. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HS-ST
Ngày: 26 - 01 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Mây.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 276/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 15/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Minh T; giới tính: Nam; sinh năm: 1998; tại: An Giang; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp An Lạc, xã An Thạnh Trung, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Trần Văn D và bà Trần Thị Y; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2020 đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 23 giờ 55 phút ngày 09/9/2020, Công an Quận 12 kiểm tra phòng 202 Khách sạn Hoa Hải Hà ở địa chỉ số 881, Tổ 40, Khu phố 3, phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Trần Minh T đang cất giấu trong túi quần trước bên trái T đang mặc một vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.

Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 12, T khai nhận: Số ma túy trên T mua của một người đàn ông tên Tâm (không rõ lai lịch) ở khu vực đường Tô Ký thuộc huyện Hóc Môn với giá 500.000 đồng vào khoảng 15 giờ ngày 09/9/2020 để sử dụng. T đã sử dụng một ít số còn lại bỏ vào bao thuốc lá hiệu Jet như trên thì bị phát hiện bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1589/KLGĐ-H ngày 18/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trân Minh T và hình dấu Công an phường Thạnh Xuân, Quận 12 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1349g, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: 01 gói ma túy đã được niêm phong, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, 01 bình nhựa có gắn nỏ và ống hút, 01 nỏ thủy tinh, 01 điện thoại di động hiệu Oppo (đã qua sử dụng và bị vỡ màn hình, dùng liên lạc cá nhân).

Đối với người đàn ông bán ma túy tên Tâm không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 không có cơ sở xử lý.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 07/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Trần Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phạt tiền bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói ma túy đã được niêm phong, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, 01 bình nhựa có gắn nỏ và ống hút, 01 nỏ thủy tinh.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo, đã qua sử dụng và bị vỡ màn hình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, vào khoảng 23 giờ 55 phút ngày 09/9/2020, Công an kiểm tra Phòng 202, khách sạn Hoa Hải Hà ở địa chỉ 881, Tổ 40, Khu phố 3, phường Thạnh Xuân, Quận 12 thì thu giữ của Trần Minh T 01 gói nylon chưa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1349g, loại Methamphetamine để sử dụng. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy, hành vi của bị cáo không có thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Tâm bán ma túy cho Trần Minh T, hiện chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra Công an Quận 12 không có cơ sở xử lý nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

01 gói nylon chứa ma túy, 01 vỏ bao thuốc lá, 01 bình nhựa có gắn nỏ và ống hút, 01 nỏ thủy tinh là vật cấm lưu hành, công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 điện thoại di động hiệu Oppo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2020.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 1589/2020); 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 01 (một) bình nhựa có gắn nỏ và ống hút; 01 (một) nỏ thủy tinh.

Trả lại cho bị cáo Trần Minh T 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, đã qua sử dụng và bị vỡ màn hình.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 09/QĐ-VKS ngày 07/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ