- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP.CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HS-ST. Ngày: 30/3/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Chung Khánh Nghị
2/ B Võ Thị Ánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Th nh phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 09/2021/TLST – HS, ngày 22 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ v tên: Trƣơng Minh T - sinh năm 1971.
- Tên gọi khác: D.
- ĐKTT: khu vực V, phường N, quận Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ.
- Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
- Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: L m ruộng;
- Cha: Trương Văn Đ,
sinh năm 1937 (chết);
- Mẹ: Huỳnh Thị Kim H,
sinh năm 1937 (sống);
- Vợ: Nguyễn Thị Huế M,
sinh năm 1973 (sống);
- Con có 01 người tên Trương Thị Kim A, sinh năm 1999;
- Tiền án, tiền sự: Chưa;
- Bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n tạm gi t ng y 17/8/2020 đến ng y 23/8/2020 thay thế biện pháp ngăn ch n b ng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến ng y 25/02/2021. Bị cáo có m t tại phiên tòa.
2. Họ v tên: Nguyễn Thị Huế M - sinh năm 1973;
- Tên gọi khác: Nguyễn Thị Kim Q.
- ĐKTT: khu vực V, phường N, quận Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ.
- Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: N ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 06/12;
Nghề nghiệp: L m ruộng;
- Cha: Nguyễn Văn Z,
sinh năm 1946 (sống);
- Mẹ: Phạm Thị B,
sinh năm 1950 (sống);
- Chồng: Trương Minh T,
sinh năm 1972 (sống);
- Con có 01 người tên Trương Thị Kim A, sinh năm 1999;
- Tiền án, tiền sự: Chưa;
- Bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi khỏi nơi cư trú t ngày 23/8/2020 cho đến ng y 25/02/2021. Bị cáo có m t tại phiên tòa
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ B Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1965 ( v ng m t)
2/ Ông Trần Văn Bé Y, sinh năm: 1979 ( v ng m t)
3/ Ông Nguyễn Thanh E, sinh năm 2006 ( v ng m t)
Cùng địa chỉ: khu vực V, phường N, quận Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ.
Người giám hộ: ng Hu nh Văn V– sinh năm: 2001 ( v ng m t)
Địa chỉ: khu vực J, phường I, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
V o lúc 17 giờ ng y 17/8/2020, đội cảnh sát hình sự Công an quận Thốt Nốt kết hợp với Công an phường N phát hiện b t quả tang Trương Minh T v vợ l Nguyễn Thị Huế M đang có h nh vi đánh bạc được thua b ng tiền b ng hình thức ghi bán số đề cho Nguyễn Thanh E tại nh thuộc khu vực V, phường N, quận Thốt Nốt. Tang vật thu gi gồm: 22 tờ giấy có ghi các con số đề được đánh số b ng mực đỏ t 01 đến 22; 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen kèm sim số 0704.808.255; 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 m u v ng gold; 01 máy tính nhãn hiệu Casio m u đen; 02 cây viết bi; tiền Việt Nam l 1.150.000 đồng
Quá trình điều tra đã xác định: Trương Minh T và Nguyễn Thị Huế M đánh bạc ăn thua b ng tiền b ng hình thức trực tiếp ghi bán số đề tại nh cho nhiều người; trong đó, có Nguyễn Thị Thu C, Trần Văn Bé Y v Nguyễn Thanh E các đ i Miền Nam v Miền B c (H Nội) đến ng y bị b t được khoảng 4 tháng. H ng ng y, sau một lần đánh bạc (l sau khi đánh bạc được thua b ng tiền đ i miền Nam ho c đ i miền B c) Trương Minh T sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen, có sim số 0704.808.255 để giao phơi cho người tên Q sim số 0794.232.999 để hưởng tiền huê hồng theo tỷ lệ: đối với số lô A, B các đ i Miền Nam v Miền B c bán số tiền 100.000 đồng được hưởng huê hồng 15.000 đồng; bao lô đ i Miền Nam bán 150.000 đồng, hưởng huê hồng 5.000 đồng; bao lô đ i Miền B c (H Nội) bán số tiền 230.000 đồng hưởng huê hồng 5.000 đồng. Hình thức đánh bạc như sau: lô A (giải 8), lô B (hai số cuối của giải đ c biệt) v bao lô (hai số cuối của giải đ c biệt đến giải 8) theo kết quả xổ số kiến thiết của các đ i Miền Nam; đối với Miền B c: lô A (giải 7), lô B (hai số cuối của giải đ c biệt) v bao lô ( hai số cuối của giải đ c biệt đến giải 7) được tính trong ng y, tỷ lệ được thua l mua 1.000 đồng trúng được 80.000 đồng.
- Vào ngày 16/8/2020, Trương Minh T v Nguyễn Thị Huế M đánh bạc được thua b ng tiền b ng hình thức ghi bán số đề đ i Kiên Giang v Miền B c cho nhiều người (thể hiện tại Bút lục số 45,54,55,57) với số tiền l 7.203.000 đồng v số tiền trúng thưởng l 4.160.000 đồng (thể hiện tại Bút lục số 56,58). Tổng số tiền đánh bạc l 11.363.000 đồng. Cụ thể:
+ Số tiền đánh bạc được thua b ng tiền đ i Kiên Giang l 7.104.000 đồng, trong đó tiền ghi bán số đề l 4.384.000 đồng, kết quả trúng thưởng với số tiền l 2.720.000 đồng;
+ Đối với đ i H Nội số tiền đánh bạc được thua b ng tiền l 4.259.000 đồng, trong đó tiền ghi bán số đề l 2.819.000 đồng, kết quả trúng thưởng với số tiền l 1.440.000 đồng.
- Ngày 17/8/2020, Trương Minh T v Nguyễn Thị Huế M đánh bạc được thua b ng tiền b ng hình thức ghi bán số đề đ i Đồng Tháp, C Mau với tổng số tiền l 5.211.000 đồng, trong đó: tiền ghi bán số đề đ i Đồng Tháp v đ i C Mau l 3.411.000 đồng (thể hiện tại Bút lục 42, 49, 52, 53) v tiền trúng thưởng đ i Đồng Tháp v C Mau l 1.800.000 đồng (thể hiện tại Bút lục 50, 52); T và M tiếp tục đánh bạc được thua b ng tiền đ i Miền B c với tổng số tiền l 1.288.000 đồng (thể hiện tại Bút lục 53). Nh ng người cùng tham gia đánh bạc được thua b ng tiền với T và M, trong đó có: Nguyễn Thị Thu C mua số đề đ i Đồng Tháp v C Mau các số 05, 50 lô A v lô B, mỗi số 3.000 đồng, tổng số tiền mua l 24.000 đồng, đã trả tiền mua số, kết quả không trúng thưởng; Trần Văn Bé Y mua bao lô các số 68, 86 đ i Đồng Tháp mỗi số 2.000 đồng, với tổng số tiền mua l 60.000 đồng, đã trả tiền mua số v kết quả trúng thưởng số 86 được 160.000 đồng, đã nhận tiền trúng thưởng; Nguyễn Thanh E mua số đề lô A đ i H Nội số 10 với số tiền 5.000 đồng, số 38 với số tiền 2.000 đồng, số 22 với số tiền 5.000 đồng, số 67 với số tiền 3.000 đồng, số 78 với số tiền 2.000 đồng, số 87 với số tiền 5.000 đồng, số 65 với số tiền 4.000 đồng, với tổng số tiền l 104.000 đồng thì bị phát hiện b t quả tang.
Trong thời gian ghi bán số đề Trương Minh T v Nguyễn Thị Huế M thu lợi bất chính với số tiền khoảng 30.000.000 đồng, T tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nốt.
Đối với Nguyễn Thị Thu C, Trần Văn Bé Y v Nguyễn Thanh E đã có hành vi đánh bạc được thua b ng tiền b ng hình thức mua số đề nhưng do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt đã ra quyết định xử phạt vi phạm h nh chính. ng Trần Văn Bé Y tự nguyện nộp số tiền trúng thưởng ng y 17/8/2020 l 160.000 đồng.
Riêng người tên Q l người nhận phơi đề của Trương Minh T theo lời khai của Trương Minh T, Cơ quan điều tra đã tiến h nh xác minh tại khu vực V, phường N có người tên Lý Thanh Q nhưng hiện đã bỏ đi khỏi địa phương chưa l m việc được; đồng thời Cơ quan điều tra đã tiến h nh yêu cầu Công ty viễn thông Mobiphone cung cấp thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0794.232.999 mà T giao phơi thể hiện tên Lý Thanh Z nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 22 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - th nh phố Cần Thơ truy tố các bị cáo Trương Minh T và Nguyễn Thị Huế M về tội “ Đánh bạc ” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại phiên toà hôm nay:
Các bị cáo đều th a nhận h nh vi phạm tội như cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm. Bị cáo T tự nguyện nộp lại số tiền bán số v tiền trúng thưởng nhưng không chứng minh được chung cho người trúng thưởng v o các ng y 16,17/8/2020, tổng số tiền 16.574.000 đồng v xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm về đo n tựu gia đình.
Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan v ng m t, không r lý do.
Kiểm sát viên gi quyền công tố tại phiên to vẫn gi nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích h nh vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó đề nghị:
Tuyên bố: Các bị cáo Trương Minh T và Nguyễn Thị Huế M phạm tội “ Đánh bạc”.
* Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo T t 06 tháng đến 09 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
Đề nghị xử phạt bị cáo M t 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng
* Về xử lý vật chứng và số tiền thu lợi bất chính: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Đối với 22 tờ giấy có ghi các con số đề được đánh số b ng mực đỏ t 01 đến 22 liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án l phù hợp
- Tịch thu tiêu hủy 02 cây viết bi v sim số 0704.808.255 do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung Ngân sách Nh nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen, 01 máy tính nhãn hiệu Casio m u đen, tiền Việt Nam l 1.150.000 đồng của bị cáo T do liên quan đến việc phạm tội;
+ Số tiền 160.000đồng của ông Bé Y giao nộp tiền trúng số;
+ Số tiền 30.000.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo.
+ Trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 m u v ng gold do không liên quan đến việc phạm tội.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có người n o khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi v ngh a vụ liên quan, người l m chứng v ng m t. Xét trong điều tra đã thu thập được lời khai của nh ng người n y, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai. Do đó, việc v ng m t của nh ng người n y không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi, chứng cứ xác định phạm tội: Trong điều tra v tại phiên toà, các bị cáo đều th a nhận h nh vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người có quyền lợi ngh a vụ liên quan cùng nh ng t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian 04 tháng tính đến ng y bị b t quả tang 17/8/2020, bị cáo T v vợ l bị cáo M đã thực hiện h nh vi ghi bán số đề trực tiếp tại nh của các bị cáo cho nhiều người với hình thức bán số đầu (lô A), số đuôi (lô B), lô ba con v bao lô kết quả xổ số kiến thiết đ i miền Nam v đ i miền B c và tổng hợp phơi giao cho thầu trên nh m mục đích thu lợi bất chính. V o ng y 17/8/2020 bị b t quả tang bị cáo T v bị cáo M đã có h nh vi ghi bán số đề các đ i Đồng Tháp, C Mau cho nhiều người với tổng số tiền bán l 3.411.000đồng v tiền trúng thưởng l 1.800.000đồng. Tổng cộng số tiền các bị cáo đánh bạc là 5.211.000đồng, trước đó v o ng y 16/8/2020 bị cáo còn bán số đề đ i Kiên Giang với số tiền l 4.384.000đồng, trúng thưởng 2.720.000 đồng, tổng cộng 7.104.000 đồng. Ngo i ra, ng y 16/8/2020 các bị cáo bán số v tiền trúng thưởng đối với đ i Miền b c với số tiền 4.259.000đồng, ng y 17/8/2020 l 1.288.000 đồng. H nh vi sai trái m các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu th nh tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: H nh vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được Nh nước nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nhưng vì động cơ tư lợi mà các bị cáo đã bất chấp sự tr ng phạt của pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục các bị cáo, đồng thời nh m đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, h nh vi phạm tội m các bị cáo đã thực hiện để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo v cũng nh m phòng ng a tội phạm chung trong xã hội. Trong vụ án có 02 bị cáo tham gia với tính chất mức độ phạm tội của t ng bị cáo khác nhau, khi lượng hình cần xem xét trách nhiệm cụ thể của t ng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
+ Đối với bị cáo Trương Minh T l người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ v biết r h nh vi ghi bán số đề l vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì hám lợi, mong muốn có nhiều tiền m không bỏ nhiều công sức lao động chính đáng nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân v o con đường phạm tội. Trong vụ án này bị cáo l người gi vai trò chính trong việc ghi bán số đề cho đến việc tổng hợp phơi đề v chung chi tiền với người mua đề. Thời gian ghi bán số đề mỗi ng y bị cáo bán số đề cho nhiều người, số tiền bán t 3.000.000đồng đến 5.000.000đồng v ng y bị b t 17/8/2020 bán số tiền l 5.211.000đồng, trước đó ng y 16/8/2020 bán số tiền 7.104.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự l phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Do đó, cần thiết áp dụng hình phạt tù l tương xứng với h nh vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra v tại phiên tòa bị cáo đã th nh khẩn khai báo v tỏ ra ăn năn, hối cải thể hiện ở việc bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính, bản thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo phải chăm sóc mẹ lớn tuổi, đây l các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần n o hình phạt cho bị cáo l phù hợp
+ Đối với bị cáo Nguyễn Thị Huế M l vợ đã tham gia giúp sức cho bị cáo T trong thời gian hoạt động ghi bán số đề, lẽ ra khi biết việc bị cáo T ghi bán số đề cho nhiều người bị cáo phải có biện pháp kiên quyết để ngăn ch n việc l m sai trái của chồng, nhưng bị cáo không l m như vậy m còn đồng tình, tham gia giúp sức cho bị cáo T ghi bán số đề, cụ thể l khi T không có ở nh , nếu có người lại mua số thì bị cáo ghi bán số, nhận tiền mua số, giao lại cho bị cáo T tổng hợp v tính lời lỗ giao cho thầu trên.
Do đó, bị cáo cũng phải chịu chung trách nhiệm hình sự đối với h nh vi đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo T. Tuy nhiên, do bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức trong thời gian ng n và bị cáo T đã bị áp dụng hình phạt chính l phạt tù. Trong quá trình điều tra v tại phiên tòa hôm nay, bị cáo th nh khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo v bị cáo T tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính l các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt chính l phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo phấn đấu sống tốt hơn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa l phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo T có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền. Theo các t i liệu chứng cứ v lời khai cho thấy bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định, ho n cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T, riêng đối với bị cáo M thì không áp dụng hình phạt bổ sung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát l phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng và số tiền thu lợi bất chính:
Trong quá trình điều tra thì Cơ quan cảnh sát điều tra có thu gi các vật chứng như sau: 22 tờ giấy có ghi các con số đề được đánh số b ng mực đỏ t 01 đến 22; 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen kèm sim số 0704.808.255; 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 m u v ng gold; 01 máy tính nhãn hiệu Casio m u đen; 02 cây viết bi; tiền Việt Nam l 1.150.000 đồng; Ng y 21/9/2020 ông Trần Văn Bé Y nộp lại số tiền 160.000 đồng; Ng y 22/9/2020 bị cáo T tự nguyện nộp lại số tiền 30.000.000 đồng thu lợi bất chính. Tổng cộng số tiền 31.310.000 đồng.
+ Đối với 22 tờ giấy có ghi các con số đề được đánh số b ng mực đỏ t 01 đến 22 l vật chứng phạm tội cần tịch thu theo hồ sơ vụ án l phù hợp.
+ Đối với 02 cây viết mực xanh đã qua sử dụng v sim số 0704.808.255 là công cụ ghi bán số đề do liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen, 01 máy tính nhãn hiệu Casio m u đen thu gi của bị cáo T là công cụ phương tiện sử dụng v o mua bán số đề liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nh nước.
+ Trong quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận v o các ng y 16, 17/8/2020 tổng số tiền bị cáo bán số đ i miền Nam v miền B c v tiền trúng thực tế nhận l 16.574.000 đồng. Sau đó, bị cáo sử dụng số tiền 4.160.000đồng để chung chi cho người trúng số, tuy nhiên bị cáo không biết tên v địa chỉ cụ thể của người trúng số đã nhận tiền trúng nên ý kiến n y không được chấp nhận nên cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 16.574.000đồng được tr số tiền trúng số của ông Trần Văn Bé Y 160.000 đồng đã nhận của bị cáo v số tiền 104.000 đồng ông Nguyễn Thanh E mua số chưa giao cho bị cáo còn lại tổng số tiền 15.160.000 đồng bị cáo phải nộp để sung ngân sách nh nước.
+ Trong thời gian bán số đề bị cáo T đã thu lợi bất chính tổng cộng 30.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải nộp lại để sung Ngân sách Nh nước nhưng được khấu tr số tiền 30.000.000 đồng bị cáo đã nộp kh c phục hậu quả .
+ Đối với ông Nguyễn Thanh E th a nhận trong khoảng thời gian mua số đề của bị cáo T bán với tổng số tiền 104.000đồng do đây l tiền liên quan đến việc phạm tôi nên cần buộc ông E nộp lại số tiền 104.000đồng để sung Ngân sách Nh nước.
+ Đối với ông Trần Văn Bé Y th a nhận trong thời gian mua số của bị cáo T trúng thưởng tổng cộng số tiền 160.000 đồng đây l tiền thu lợi bất chính nên cần buộc ông phải nộp lại nhưng được khấu tr số tiền công an thu gi 160.000 đồng.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 m u v ng gold do công an thu gi của bị cáo T, quá trình điều tra chứng minh không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T l phù hợp.
[7] Xét thấy đối với bà Nguyễn Thị Thu C, ông Trần Văn Bé Y và ông Nguyễn Thanh E đã có h nh vi đánh bạc được thua b ng tiền b ng hình thức mua số đề nhưng do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng chưa đủ yếu tố cấu th nh tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt đã ra quyết định xử phạt vi phạm h nh chính các ông bà l phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Cần thiết kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt tiếp tục xác minh đối với người tên Q l người nhận phơi đề của Trương Minh T theo lời khai của Trương Minh T, Cơ quan điều tra đã tiến h nh xác minh tại khu vực V, phường N có người tên Lý Thanh Q nhưng hiện đã bỏ đi khỏi địa phương chưa l m việc được. Đồng thời, cơ quan điều tra đã tiến h nh yêu cầu Công ty viễn thông Mobiphone cung cấp thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0794.232.999 mà T giao phơi thể hiện tên Lý Thanh Z nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm.
[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
Tuyên bố: Các bị cáo Trương Minh T và Nguyễn Thị Huế M phạm tội “Đánh bạc”.
1/ Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: vào Điều 17, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Xử phạt bị cáo Trƣơng Minh T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính t ng y bị cáo chấp h nh án được khấu tr thời gian bị cáo bị tạm gi t ng y 17/8/2020 đến ng y 23/8/2020.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huế M số tiền 30.000.000đ ( Ba mươi triệu đồng).
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
2/ Về xử lý vật chứng và số tiền thu lợi bất chính: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 22 tờ giấy có ghi các con số đề được đánh số b ng mực đỏ t 01 đến 22.
- Tịch thu tiêu hủy 02 cây viết bi, sim số 0704.808.255 do không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung Ngân sách Nh nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u đỏ đen, 01 máy tính nhãn hiệu Casio m u đen của bị cáo T do liên quan đến việc phạm tội.
+ Số tiền 160.000đồng của ông Trần Văn Bé Y giao nộp tiền trúng số.
+ Buộc bị cáo T phải nộp số tiền 30.000.000 đồng do thu lợi bất chính v số tiền 15.160.000 đồng do liên quan đến việc phạm tội, tổng cộng số tiền 45.160.000 đồng nhưng được khấu tr tổng số tiền 31.150.000 đồng ( công an bắt quả tang thu giữ số tiền 1.150.000 đồng và bị cáo T tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 30.000.000 đồng), bị cáo T còn phải có trách nhiệm nộp thêm số tiền 14.010.000 đồng.
+ Buộc ông Nguyễn Thanh E nộp số tiền 104.000 đồng.
+ Trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Nokia m u xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A39 m u v ng gold do không liên quan đến việc phạm tội.
Kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt tiếp tục xác minh l m r đối tượng tên Q l người nhận phơi đề của bị cáo T, qua xác minh tại khu vực V, phường N có người tên Lý Thanh Q nhưng hiện đã bỏ đi khỏi địa phương chưa l m việc được, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm.
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trương Minh T, Nguyễn Thị Huế M mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng tại Chi cục Thi h nh án dân sự quận Thốt Nốt, th nh phố Cần Thơ.
4/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ng y kể t ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi v ngh a vụ liên quan v ng m t được quyền kháng cáo trong hạn 15 ng y kể t ng y nhận được bản án ho c kể t ng y bản án được tống đạt theo quy định.
5/ Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án ho c bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a v 9 Luật thi h nh án dân sự. Thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi h nh án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND quận Thốt Nốt; - Công an quận Thốt Nốt; - Cơ quan THA quận Thốt Nốt; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Võ Bá Lộc |