- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HS-ST Ngày: 16-04-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Phong
Ông Lưu Xuân Tiến
-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/HSST ngày 22 tháng 03 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/HSST- QĐ ngày 01 tháng 04 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Q; Sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT: Xóm 14, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi ở: Số 15/2/75 đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn K, sinh năm: 1962; Con bà: Phạm Thị X, sinh năm: 1966. Có vợ: Phạm Thị Vân A, sinh năm 1998. Bị cáo có 01 con: sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2021 đến ngày 12/03/2021 chuyển tạm giam, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10/3/2021, bị cáo đi bộ từ nhà anh rể là Đinh Thanh K ra khu vực Cầu Đò Quan, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định với mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ heroin được gói trong giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Sau đó, bị cáo cất giấu gói heroin vừa mua được vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi bỏ vào túi bên phải áo khoác đang mặc và đón xe khách về huyện Giao Thủy. Khi xe đi đến trước cổng công ty Yamani thuộc xóm Hồng Cát, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định thì bị cáo xuống xe mục đích tìm chỗ sử dụng heroin. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi đang ngồi uống nước tại quán ven đường thì bị lực lượng Công an huyện Nam Trực kiểm tra hành chính đã phát hiện trong túi áo khoác bên phải bị cáo đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng. Lực lượng Công an huyện Nam Trực đã bắt giữ, lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong kí hiệu là M.
Tại Bản kết luận giám định số 336/GĐKTHS ngày 11/3/2021 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 giói giấy bạc màu vàng niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Heroin. Khối lượng mẫu M là 0,136 gam.
Bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 19/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn Q từ 14 tháng tù đến 20 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số hêroin được đựng trong phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/3/2021; biên bản khám xét ngày 10/3/2021; bản kết luận giám định số 336/GĐKTHS ngày 11/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, biên bản ghi lời khai người làm chứng anh Ngô Xuân Đ, anh Trần Xuân S.. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 10/3/2021 tại khu vực cổng Công ty Yamani thuộc xóm Hồng Cát, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, bị cáo đã tàng trữ trái phép 01 gói heroine có khối lượng 0,136 gam với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ heroin để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số heroin là vật mà Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người đàn ôngđã bán heroin cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên cơ quan điều tra tách ra để điều tra và xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Trần Văn Q 14(Mười bốn) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 10/3/2021.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số heroin được đựng trong phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2021 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
3.Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Trần Văn Q phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện Nam Trực; - Công an huyện Nam Trực; - UBND xã G; - Bị cáo; - Lưu HS+VP. | Phạm Mạnh Cường |