vanban.org

Bản án 18/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (M t) năm tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 21/9/2020. ề vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HS-ST
Ngày: 25 - 3 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tr n im oan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Tr n Thị Cúc.

2/ Bà Đồng Thị Mười.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai ậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Ngọc - iểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai ậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh L, sinh ngày 13/4/1993. Nơi sinh: Tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp 5, xã T, huyện Cai ậy, tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nghề N: àm vườn; Quốc tịch: iệt Nam; Dân t c: inh; Tôn giáo: hông; Trình đ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Tấn N và bà õ Thị Thanh P; Anh, chị, em ru t có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: hông có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2020 đến ngày 27/9/2020 thì tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trong quá trình xét h i, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm t t như sau:

hoảng 11 giờ 20 phút ngày 21/9/2020, bị cáo L điều khiển xe mô tô biển số 63B8 - 049.45 đi trên tỉnh l 868, thu c ấp Mỹ Thạnh A, xã ong Tiên, huyện Cai ậy, tỉnh Tiền Giang thì gặp m t người tên T (không rõ họ, địa chỉ) h i mua ma túy. T bán cho bị cáo m t bịch ma túy với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua, bị cáo để bịch ma túy vào bao thuốc lá hiệu JET và cất giấu vào túi qu n sau, bên trái đang mặc trên người. Bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bến phà Thới

c, thu c huyện Chợ ách, tỉnh Bến Tre để rủ người bạn tên H (không rõ họ, địa chỉ) cùng sử dụng ma túy. hi đến ấp Thủy Tây, xã Ngũ Hiệp, huyện Cai ậy, tỉnh Tiền Giang thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai ậy phát hiện, b t quả tang thu giữ 01 bịch ma túy được để trong bao thuốc lá hiệu JET và cất giấu túi qu n sau, bên trái đang mặc trên người của bị cáo.

ật chứng thu giữ gồm:

+ 01 bịch ny lon màu tr ng hàn kín xung quanh bên trong có chứa tinh thể màu tr ng nghi là ma túy có kích thước 4,2cm x 2cm, được niêm phong trong m t bì thư màu tr ng, ký hiệu gói 01.

+ 01 xe mô tô biển số 63B8 – 049.45 màu đ hiệu Wave anpha.

+ 01 điện thoại di đ ng hiệu OPPO màu xanh, tím, đen.

+ 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia màu xám.

+ 01 bao thuốc lá hiệu JET.

+ Tiền iệt Nam đồng 466.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 194/ GĐ-PC09 ngày 23/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể màu tr ng trong 01 gói ny lon màu tr ng được niêm phong (ký hiệu gói số 01) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4666 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai ậy bị cáo Nguyễn Minh L đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình, bị cáo thống nhất với kết luận của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng của iện kiểm sát.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSCL ngày 13 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai ậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh L về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.

Đại diện iện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm t i bị cáo Nguyễn Minh L đủ yếu tố cấu thành t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy . Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng:

Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy m t bì thư ký hiệu số 194 ngày 23/9/2020 bên trong có 01 gói nylon màu tr ng có khối lượng là 1,4068 gam dán kín là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 bao thuốc lá hiệu JET. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển số 63B8 - 049.45 màu đ hiệu Wave anpha.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 B luật tố tụng hình sự: Trao trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di đ ng hiệu OPPO màu xanh, tím, đen; 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia màu xám, tiền iệt Nam đồng 466.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin H i đồng xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện bị cáo Nguyễn Minh L đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu tr ng được hàn kín xung quanh, qua giám định đã được kết luận là ma túy tổng hợp, khối lượng 1,4666 gam loại Methamphetamine, mục đích cất giấu ma túy để sử dụng d n. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Minh L phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến chế đ quản lý đ c quyền của Nhà nước đối với ma túy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi của công dân về việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán, trao đổi trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã h i tại địa P nói riêng và của toàn xã h i nói chung. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i được pháp luật hình sự điều chỉnh, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, c n áp dụng pháp luật hình sự để xử lý nghiêm kh c hành vi của bị cáo để bị cáo có đủ thời gian cải tạo bản thân trở thành m t công dân có ích cho xã h i và đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

ề tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, H i đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong thời gian H i đồng xét xử nghị án, bà õ Thị Thanh P (mẹ ru t của bị cáo) có giao n p cho H i đồng xét xử giấy chứng nhận huy chương vì sự nghiệp văn hóa qu n chúng của B ăn hóa - Thông tin tặng huy chương cho ông Nguyễn Tấn N; B trưởng B ăn hóa, thể thao và du lịch tặng kỷ niệm chương vì sự N văn hóa, thể thao và du lịch cho bà õ Thị Thanh P. ì vậy, H i đồng xét xử xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.

ề tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

ật chứng vụ án: M t bì thư ký hiệu vụ số 194 ngày 23/9/2020 bên trong có 01 gói nylon màu tr ng có khối lượng là 1,4068 gam dán kín là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 bao thuốc lá hiệu JET. H i đồng xét xử nhận thấy, vật chứng này liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng, căn cứ vào khoản 1 Điều 47 B luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự c n tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di đ ng hiệu OPPO màu xanh, tím, đen, 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia màu xám, tiền iệt Nam đồng 466.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm t i của bị cáo nên c n trao trả lại cho bị cáo, căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 B luật tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 63B8-049.45, màu đ , hiệu Wave anpha, không kính chiếu hậu 02 bên, không bửng ch n gió, bánh mâm qua điều tra đã xác định được chủ sở hữu là ông õ ăn Đ. ào năm 2016 ông Đđã bán xe này lại cho m t người nhưng ông không nhớ rõ họ tên, địa chỉ, có lập giấy tờ mua bán nhưng thời gian đã lâu nên lạc mất. Khi mua bán có th a thuận, người mua thực hiện thủ tục sang tên. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo khai nhận, bị cáo mượn xe của người bạn tên T2 (không rõ họ, địa chỉ). Đại diện iện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị H i đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước là chưa có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, xe mô tô biển kiểm soát 63B8-049.45 này không phải của bị cáo mà do bị cáo mượn của người khác và hiện tại chưa xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Do đó, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai ậy ra thông báo tìm chủ sở hữu trên P tiện thông tin đại chúng. Sau đó, việc xử lý xe mô tô biển kiểm soát 63B8-049.45 sẽ thực hiện theo quy định pháp luật tại Điều 228 B luật Dân sự năm 2015. Trong thời hạn quy định tại Điều 228 B DS 2015 mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản là vật chứng có yêu c u thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; Hết thời hạn này, tài sản sẽ được sung quỹ Nhà nước.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, quá trình xác minh chưa tìm thấy đối tượng nghi vấn mua bán ma túy tại khu vực này nên tiếp tục xác minh xử lý sau là có căn cứ.

Đại diện iện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét tính chất, mức đ hành vi phạm t i và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử phạt bị cáo với mức án tương xứng hành vi phạm t i của bị cáo với mức án từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.

Xét đề nghị Đại diện iện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận thấy, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự nên c n xem xét giảm nhẹ m t ph n hình phạt cho bị cáo.

ề án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của Điều 136 B luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (M t) năm tù về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 21/9/2020.

3. ề vật chứng vụ án:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 B luật hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 B luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy m t bì thư ký hiệu vụ số 194 ngày 23/9/2020 bên trong có 01 gói nylon màu tr ng có khối lượng là 1,4068 gam dán kín là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine, 01 bao thuốc lá hiệu JET.

Trao trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di đ ng hiệu OPPO màu xanh, tím, đen, 01 điện thoại di đ ng hiệu Nokia màu xám, tiền iệt Nam đồng 466.000 đồng.

4. ề án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 B luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i.

Bị cáo Nguyễn Minh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. ề quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ