vanban.org

Bản án 18/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo La TL phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy .

Xử phạt bị cáo La TL 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính t ngày 15 tháng 10 năm 2020. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "La Thanh L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo La TL phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18/2021/HS-ST
Ngày: 22-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị T t;

Ông Dương Thành C ng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:

La TL, sinh năm 1998 tại S c Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: p T C B, xã Th H, huyện C T, tỉnh SoT; nghề nghiệp: kh ng; trình độ học v n: 7/12; dân tộc: Khmer; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng La D và bà Thạch Thị T; c 03 con, lớn nh t sinh năm 2014, nh nh t sinh năm 2019; tiền án: kh ng; tiền sự: kh ng; bị b t tạm giam t ngày 15 tháng 10 năm 2020 đến nay, c mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; nơi cư trú: khu phố 1, thị tr n NG, huyện C Đ, tỉnh B, v ng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1992; nơi cư trú: p S, xã C T II, huyện B Ba, tỉnh B D, v ng mặt.

+ Ông Ng Thanh P, sinh năm 1987; nơi cư trú: p Ông Thanh, xã Cây Trường II, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:

La TL là đối tượng nghiện ma túy, kh ng nơi cư trú nh t định.

Khoảng 23 giờ ngày 14 tháng 10 năm 2020, La TL cùng Nguyễn T n Phát và Ng Thanh Phụng thuê nhà nghỉ Bình Minh thuộc khu phố Đồng S , thị tr n ai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương để sử dụng ma túy. Phụng mang ma túy đã chuẩn bị t trước ra để cả ba cùng sử dụng. Khi sử dụng hết ma túy, oan rủ Phát và Phụng mua thêm ma túy về sử dụng nhưng Phát và Phụng kh ng đồng ý. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, oan mượn xe m t biển số 72X2- 8282 của Phụng đi mua đồ ăn. oan ra kh i nhà nghỉ thì điện thoại cho đối tượng tên Đạt (kh ng rõ họ tên, địa chỉ) để h i mua 300.000 đồng ma túy đá. Đối tượng tên Đạt đồng ý. oan điều khiển xe đến khu vực tại xã Cây Trường II, huyện Bàu Bàng gặp đối tượng tên Đạt mua 01 g i ma túy với giá 300.000 đồng đem về sử dụng. Sau đ , oan c t gi u g i ma túy vào túi áo khoác bên trái. Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 15 tháng 10 năm 2020, khi oan điều khiển xe m t đi đến p 1, xã Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng C ng an xã Tr Văn Thố kiểm tra hành chính và b t quả tang hành vi tàng trữ ma túy của oan. Vật chứng tạm giữ: 01 g i nylon được hàn kín bên trong chứa ch t tinh thể màu tr ng, 01 điện di động hiệu Redmi Note 5 màu vàng nhạt model M1803E7SG, kèm sim số.

Theo Kết luận giám định số 655 MT-PC09 ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: M u tinh thể màu tr ng gửi giám định đều là ma túy, c khối lượng 0,135 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u vật sau giám định được niêm phong, c khối lượng: 0,0616 gam.

Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác kh ng c ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Hành vi sử dụng ma túy đối với Nguyễn T n Phát và Ng Thanh Phụng đã bị C ng an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử phạt 750.000 đồng vào ngày 14 tháng 12 năm 2020.

Đối với xe m t biển số 72X2-8282 do Nguyễn Thị Thúy đứng tên gi y đăng ký xe. Năm 2012, bà Thúy đã bán lại xe trên cho bà Nguyễn Thị Kim Thoa. Bà Thoa cho Phụng mượn đi và kh ng biết việc Phụng cho oan mượn đi mua ma túy để tàng trữ sử dụng nên ngày 07 tháng 12 năm 2020, Cơ quan điều tra C ng an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 15 ngày 07 tháng 12 năm 2020 trả xe trên cho bà Thoa.

Đối với đối tượng tên Đạt, Cơ quan điều tra đang làm rõ nhân thân, lai lịch khi nào c kết quả sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, La TL đã khai nhận hành vi Tàng trữ trái phép ch t ma túy của mình phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSBB ngày 21 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo La TL về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017, xử phạt bị cáo La TL với mức án t 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong ghi số 655/PC09 c hình d u đ của Phòng k thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,0616 gam Methamphetamine.

Trả lại cho La TL 01 điện di động hiệu Redmi Note 5 màu vàng nhạt model M1803E7SG, kèm sim số.

Tại phiên tòa bị cáo thống nh t hành vi phạm tội kh ng c ý kiến tranh luận.

Người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Thúy kh ng c mặt nên kh ng ghi nhận ý kiến tranh luận.

Bị cáo n i lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo r t ăn năn và hối hận, bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật để bị cáo c cơ hội sớm được trở về hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án kh ng ai c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo La TL đã thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố. ời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, lời khai của người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử c căn cứ kết luận: ngày 15 tháng 10 năm 2020, tại xã Tr Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị cáo Loan đã c hành vi tàng trữ 01 g i ma túy loại Methamphetamine c trọng lượng 0,1315 gam, mục đích là để sử dụng. Do đ , c đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo La TL phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát là c căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét th y, bị cáo đã đủ tu i chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ch t ma tuý. Đồng thời, xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây hệ quả x u cho con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy là trái quy định của pháp luật nhưng để th a mãn cơn nghiện cho bản thân, bị cáo v n cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, c n áp dụng hình phạt nghiêm kh c, buộc bị cáo phải ch p hành hình phạt tù trong một thời gian nh t định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ng a chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

4.1 Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc Khmer nên được hưởng tình tiết giảm nh theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: kh ng c .

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc Khmer thuộc dân tộc thiểu số nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đ i b sung năm 2017.

Về vật chứng: Đối với xe m t biển số 72X2-8282 do bà Nguyễn Thị T đứng tên chủ sở hữu, bà T đã bán lại cho bà Nguyễn Thị Kim Th vào năm 2012. Ngày 14 tháng 10 năm 2020, bà Th cho P mượn kh ng biết Ph giao cho bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả 01 xe m t cho bà Th là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với m u vật hoàn lại sau giám định là 01 bì thư ghi số 655 PC09 c hình d u đ của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,0616 gam Methamphetamine là c ng cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội kh ng c giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đối với 01 điện di động hiệu Redmi Note 5 màu vàng nhạt model M1803E7SG, kèm sim số là tài sản hợp pháp của bị cáo nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 99, 106, 292, 293 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo La TL phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy .

Xử phạt bị cáo La TL 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính t ngày 15 tháng 10 năm 2020.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: bì thư ghi số 655 PC09 c hình d u đ của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,0616 gam Methamphetamine.

Trả lại cho bị cáo La TL 01 (một) điện di động hiệu Redmi Note 5 màu vàng nhạt model M1803E7SG, kèm sim.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo La TL phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án. Người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án v ng mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ