- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nông Thị H - Đồng Thế Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị H đƣợc ly hôn anh Đồng Thế Q.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 5 - 2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đới Văn Trinh
2. Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 413/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2021 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nông Thị H, sinh năm 1989;
Nơi ĐKHKTT: Khu dân cƣ T, phƣờng A, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Bị đơn: Anh Đồng Thế Q, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Khu dân cƣ T, phƣờng A, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
- Ngƣời làm chứng: Bà Mạc Thị N, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Khu dân cƣ T, phƣờng A, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Chị H, anh Q, bà N đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2020, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Nông Thị H trình bày:
Chị và anh Q đăng ký kết hôn ngày 17/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã C (nay là phƣờng A, thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh Q ở khu dân cƣ T, phƣờng A. Sau đó, vợ chồng lên Lạng Sơn làm ăn, thỉnh thoảng vẫn về nhà ở T, A. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó, khoảng 2 - 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thƣờng xảy ra bất đồng quan điểm, dẫn tới cãi vã, xô xát. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải nhƣng không đƣợc, mâu thuẫn ngày càng lớn, tình cảm vợ chồng mất dần. Từ tháng 7/2020, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Vợ chồng chính thức sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Chị chuyển về thôn L, xã N, huyện C, tỉnh Lạng Sơn gần nhà bố mẹ đẻ ở hẳn và không chung sống cùng anh Q nữa. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ đƣợc. Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh Q. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đồng Thị Hồng H, sinh ngày 27/3/2011 và Đồng Thị Hồng M, sinh ngày 18/11/2013. Hiện tại, các con chung đang ở cùng với mẹ đẻ anh Q là bà Mạc Thị N ở khu dân cƣ T, phƣờng A, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Nếu ly hôn, chị đề nghị tòa án giao cháu Mai cho anh Q nuôi dƣỡng và giao cháu Hoa cho chị nuôi dƣỡng. Chị và anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Hiện tại, chị làm nghề bán hàng tự do, thu nhập khoảng 15.000.000đ/tháng. Chị đủ khả năng để chăm sóc tốt cho con. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Đồng Thế Q đƣợc tòa án triệu tập nhiều lần nhƣng không đến tòa án. Ngày 02/4/2021, anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt gửi qua bƣu điện đến Tòa án xác định lý do anh không đến Tòa án theo giấy triệu tập vì lý do anh làm việc ở xa và do tình hình dịch bệnh Covid - 19 nên anh không thể về đƣợc. Anh Q xác định vợ chồng mâu thuẫn từ mấy năm trở lại đây. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, dẫn đến thƣờng hay cãi vã, xúc phạm nhau. Gia đình đã khuyên bảo, hòa giải nhiều nhƣng không đƣợc. Từ tháng 7/2020 đến nay, vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh là nhất trí ly hôn vì vợ chồng không còn tình cảm và không thể đoàn tụ đƣợc. Về con chung: Anh Q cũng đề nghị giao con chung Đồng Thị Hồng H cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng và giao con chung Đồng Thị Hồng M cho anh trực tiếp nuôi dƣỡng. Anh và chị H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Về quan hệ tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 07/01/2021, cháu Đồng Thị Hồng H trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ; cháu Đồng Thị Hồng M trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với bố.
- Tại biên bản lấy lời khai ngƣời làm chứng ngày 15/4/2021, bà Mạc Thị N - mẹ đẻ của anh Q xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể giữa chị H và anh Q thế nào bà không nắm đƣợc. Bà chỉ biết là khoảng vài tháng trở lại đây giữa chị H và anh Q có xảy ra mâu thuẫn, sau đó, vợ chồng sống ly thân và gửi 02 con nhờ bà trông nom giúp. Bà và gia đình đã khuyên bảo, hòa giải nhƣng không đƣợc. Bà không muốn vợ chồng ly hôn, nhƣng chị H cứ cƣơng quyết thì tùy vợ chồng quyết định. Về con chung: Hiện tại 02 con chung là Đồng Thị Hồng H và Đồng Thị Hồng M đang do bà trông nom, chăm sóc giúp vợ chồng. Theo bà nếu vợ chồng ly hôn thì nên giao cho mỗi ngƣời nuôi 01 con. Nếu anh Q đƣợc nuôi con, bà sẽ hỗ trợ anh Q chăm sóc con trong thời gian anh Q đi làm.
- Tại các biên bản xác minh với khu dân cƣ T xác định: Vợ chồng chị H, anh Q có mâu thuẫn, bất đồng cụ thể thế nào địa phƣơng không nắm đƣợc. Chỉ biết thời gian gần đây, chị H không chung sống cùng anh Q. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của địa phƣơng là đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo định pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, thời gian gần đây anh chị gửi 02 cháu cho bà nội là bà Mạc Thị N nuôi dƣỡng. Nếu tòa án giải quyết việc ly hôn quan điểm của địa phƣơng là đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các bên khi giao con.
Tại phiên toà:
Chị H, anh Q vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị H đƣợc ly hôn anh Đồng Thế Q. Về con chung: Xử giao con chung là Đồng Thị Hồng H, sinh ngày 27/3/2011 cho chị Nông Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; giao con chung Đồng Thị Hồng M, sinh ngày 18/11/2013 cho anh Đồng Thế Q trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H, anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Chị H, anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị H, anh Q thực hiện quyền này. Về án phí: Chị Nông Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhƣng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ngƣời làm chứng là bà Mạc Thị N vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Đồng Thế Q cƣ trú tại: Khu dân cƣ T, phƣờng A, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Nông Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Q và đề nghị giải quyết về việc nuôi con chung, do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị H và anh Đồng Thế Q kết hôn với nhau ngày 17/12/2010 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng An Lạc. Do vậy, hôn nhân của chị H, anh Q là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Từ tháng 7/2020, chị H và anh Q đã sống ly thân và không quan tâm liên lạc với nhau. Cả chị H và anh Q đều xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ đƣợc. Hội đồng xét xử thấy rằng việc chị H, anh Q không sống chung; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn anh Q.
Về con chung: Cả chị H và anh Q đều thống nhất quan điểm đề nghị giao con chung là Đồng Thị Hồng H, sinh ngày 27/3/2011 cho chị Nông Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng; giao con chung Đồng Thị Hồng M, sinh ngày 18/11/2013 cho anh Đồng Thế Q trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị H, anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Chị H và anh Q đều có công việc và thu nhập, đủ điều kiện để nuôi dƣỡng con chung. Quan điểm nuôi con của chị H thống nhất với quan điểm của anh Q cũng nhƣ phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoa và cháu Mai. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận theo yêu cầu của chị H về việc giao con. Chị H, anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Chị H, anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở.
Về quan hệ tài sản: Chị H, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị H đƣợc ly hôn anh Đồng Thế Q.
2. Về con chung: Xử giao con chung là Đồng Thị Hồng H, sinh ngày 27/3/2011 cho chị Nông Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; giao con chung Đồng Thị Hồng M, sinh ngày 18/11/2013 cho anh Đồng Thế Q trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H, anh Q không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau.
Chị H, anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị H, anh Q thực hiện quyền này.
3. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nông Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006772 ngày 28/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi yêu cầu hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND phƣờng A (Để ghi sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |