- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con giữa Nguyễn Mỹ H - Nguyễn Thân P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Thân P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST Ngày: 19-4-2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Tấn Nga;
Ông Nguyễn Thành Dân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thân P, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 12/01/2021 và tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ H trình bày:
Bà và ông P tổ chức lễ cưới vào năm 2012, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25/4/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, do ông P không chung thủy, đối xử lạnh nhạt với vợ, mặc dù bà đã nhiều lần tha thứ nhưng ông P không thay đổi, hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân đến nay hơn 08 tháng, ông P ra ngoài nhà trọ ở sau đó thì về nhà mẹ ruột ở, sau khi ly thân, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm lo lắng cho nhau. Do hôn nhân không hạnh phúc, nay yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 29/10/2013 hiện con đang sống chung với bà, bà yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Thân P vắng mặt, không có lời trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà H được ly hôn với ông P; Về con chung: giao cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi; không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung do không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà H yêu cầu ly hôn với ông P và giải quyết quyền nuôi con chung. Quan hệ tranh chấp nêu trên được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông P được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông P.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn thể hiện ngày 25/4/2012 bà H và ông P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn trình bày, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được, nguyên nhân do ông P không chung thủy, lạnh nhạt với vợ con, hôn nhân không hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân đến nay hơn 08 tháng. Kể từ sau ly thân, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm thăm hỏi, lo lắng cho nhau, bản thân bà H không còn tình thương dành cho chồng. Tòa án đã tiến hành mời hòa giải nhiều lần nhưng ông P vẫn vắng mặt không đến Tòa án, điều này cho thấy ông P không mong muốn được Tòa án hòa giải hàn gắn đoàn tụ với vợ. Mặt khác, thời gian vợ chồng ly thân, mạnh ai chỉ biết bổn phận của người đó, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông P.
Về con chung: Vợ chồng có có một con chung tên Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 29/10/2013 hiện con đang sống chung với bà H, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi, cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu xem xét. Ông P không phản hồi ý kiến cho Tòa án về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào lời khai của con chung được Tòa án ghi nhận vào ngày 26/3/2021, cháu Y có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với mẹ là bà H. Vì vậy, cần giao cháu Y cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật cũng như nguyện vọng con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét do đương sự không có yêu cầu.
Về án phí sơ thẩm: Bà H là người yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định pháp luật.
Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị là có căn cứ pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Thân P.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Mỹ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 29/10/2013 đến khi con đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Thân P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, do đương sự không có yêu cầu.
3. Về tài sản chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu.
4. Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
5. Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0008253 ngày 18/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, bà H đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh T; - UBND TT Phú L; - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nghiệp |