vanban.org

Bản án 18/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều L. Chị Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn với anh Vũ Văn T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Thị Trâm Anh, sinh ngày 13-03-2010, cho chị Nguyễn Thị Kiều L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị Loan không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều L. Chị Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn với anh Vũ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2021.
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thị Bích Hiệp;

2- Bà Thị Amina.;

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 664/2020/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 2, ấp Hội Tân, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có đơn yêu cầu vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ 2, ấp Hội Tân, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2020, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều L trình bày:

Về hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận kết hôn số 107 ngày đăng ký 07-12-2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc sau này phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình nên dẫn đến gây gỗ, cãi nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn chị L không thể tiếp tục chung sống cùng anh T. Do đó chị L yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Thị Trâm Anh, sinh ngày 13-03-2010, hiện đang sống với chị Loan. Chị Loan yêu cầu trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trâm Anh; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là anh Vũ Văn T đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án giải quyết và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Chị L là nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án giải quyết và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 2, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều L. Chị Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn với anh Vũ Văn T.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Vũ Nguyễn Thị Trâm Anh, sinh ngày 13-03-2010 cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kiều L không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị L là nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án giải quyết và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T.

Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị L Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị L chung sống với anh T vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận kết hôn số 107 ngày đăng ký 07-12-2010 chung sống tự nguyện, tự tìm hiểu nhau đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ, chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình nên dẫn đến gây gỗ, cãi nhau, đánh nhau. Xét thấy mâu thuẫn của anhThạnh, chị Loan đã đến mức độ trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: Chị L, anh T có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Thị Trâm Anh, sinh ngày 13-03-2010, hiện đang sống với chị L. Chị L yêu cầu trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trâm Anh; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy: Cháu Trâm Anh hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và hiện đang sống với chị L nên Hội đồng xét xử giao cháu Trâm Anh cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều L. Chị Nguyễn Thị Kiều L được ly hôn với anh Vũ Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Vũ Nguyễn Thị Trâm Anh, sinh ngày 13-03-2010, cho chị Nguyễn Thị Kiều L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị Loan không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kiều L không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà chị L đã nộp theo biên lai thu số 0001294 ngày 02-11-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị L đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kiều L, anh Vũ Văn T được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ