vanban.org

Bản án 18/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Điểu Thị V. 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Điểu Thị V được ly hôn với ông Điểu N.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "xét xử"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 18/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 05-7-2021

V/v!“Ly!hôn,!tranh!chấp!! nuôi!con!khi!ly!hôn”!

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-!Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà:

Bà Trần Thị Hải Ly

-!Các!Hội!thẩm!nhân!dân:!

!

Ông Phạm Đình Thạch

Bà Nguyễn Thị Mùa

Thư!ký!phiên!tòa: Ông Nguyễn Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bù

Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

tham gia phiên toà: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly!hôn,!tranh!chấp!nuôi!con!khi!ly!hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 54/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 51/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Điểu Thị V, sinh ngày 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Bù K, xã D, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Điểu N, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Điểu Thị V trình bày:

Về!quan!hệ!hôn!nhân: Bà và ông Điểu N, sinh năm 1984 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắk Ơ ngày 11/5/2011.

Thời gian đầu bà và ông N sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do khác biệt về quan điểm sống, ông Điểu N thường xuyên rượu chè say xỉn, không chịu làm ăn chăm lo cho vợ con, thường xuyên chửi bới đánh đập vợ con, nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ cuối năm 2019 đến nay bà và ông Điểu N sống ly thân.

Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân chung sống hạnh phúc không đạt được, bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết cho bà được ly hôn với ông Điểu N.

Về!con!chung: Bà và ông N có 01 người con chung là cháu Điểu Thị T, sinh ngày 23/12/2010. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu T cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về!tài!sản!chung,!nợ!chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong!quá!trình!giải!quyết!vụ!án!bị!đơn!ông!Điểu!N!vắng!mặt!nên!không!có! bản!lời!khai.!

Ý!kiến!phát!biểu!của!đại!diện!Viện!kiểm!sát: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đều thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn ông Điểu N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do, thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, sau đó phát sinh mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân. Nay, nguyên đơn có nguyện vọng được ly hôn; bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên hòa giải nhiều lần nhưng không hợp tác. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn với nhau; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản không yêu cầu tòa án giải quyết thì đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về!thẩm!quyền!và!thủ!tục!tố!tụng:

Bà Điểu Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Điểu N có hộ khẩu thường trú và cư trú tại Thôn B, xã D, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly!hôn,!tranh!chấp!nuôi!con!khi!ly!hôn”. Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Điểu Thị V có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Điểu N vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà V đã trình bày rõ ý kiến, quan điểm của mình và có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, việc vắng mặt của bà V là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật; đối với bị đơn ông Điểu N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2]Về!nội!dung!vụ!án:

[a] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông N được hình thành trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắk Ơ ngày11/5/2011, đúng theo quy định pháp luật, là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Điểu Thị V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà V trình bày trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, đặc biệt từ năm 2019 đến nay mâu thuẫn trở nên trầm trọng, vợ chồng không nói chuyện được với nhau, đời sống hôn nhân trở nên căng thẳng, mệt mỏi nên từ cuối năm 2019 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, ngày 12/5/2021 Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương nơi ông N, bà V cư trú được biết hai bên có xảy ra cãi nhau, ông N thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn không quan tâm đến gia đình con cái nên mâu thuẫn rất trầm trọng; đại diện thôn Bù Khơn nhiều lần tiến hành khuyên can hòa giải nhưng không có kết quả. Từ những căn cứ trên cho thấy hôn nhân giữa ông N, bà V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Điểu Thị V.

[b] Về con chung: Bà V và ông N có 01 người con chung là cháu Điểu Thị T, sinh ngày 23/12/2010. Sau khi ly hôn bà V có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.; còn bị đơn ông N không có ý kiến, yêu cầu gì về việc nuôi con. Xét thấy, nhằm bảo đảm quyền lợi, cũng như sự ổn định của con chưa thành niên và nguyện vọng của cháu mong muốn được ở với mẹ. Do đó, cần giao con chung là Điểu Thị T, sinh ngày 23/12/2010 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con là phù hợp.

[c] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[d] Về án phí sơ thẩm: Bà Điểu Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

! Vì!các!lẽ!trên;!

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147; 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51; 53; 56; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Điểu Thị V.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Điểu Thị V được ly hôn với ông Điểu N.

2/ Về việc nuôi con: Giao cho bà Điểu Thị V trực tiếp nuôi con chung là Điểu Thị T, sinh ngày 23/12/2010. Ông Điểu N không phải cấp dưỡng con.

Sau khi ly hôn, ông N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở ông thực hiện quyền này.

Vì lợi ích mọi mặt của con ông N, bà V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Điểu Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007598 ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

4/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ