- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18 /2021/DSST Ngày 29/4/2021 V/v tranh chấp hợp đồng vay tiền. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Thanh Tồn
Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Trần Văn Phước;
2/ Ông Phan Văn Chiếu.
- Thư ký phiên tòa: ông Danh Văn An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2020/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp “hợp đồng vay tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2021/QĐST-DS ngày 13/4/2021 giữa:
1/. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long.
Địa chỉ: số 40-42-44, đường Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn Anh, chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Võ Tấn Đạt, chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch Phước Long.
2/. Bị đơn: Anh Phan Văn Qui, sinh năm 1981;
Chị Lê Thị Gìn, sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp Phước Hòa A, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh Đạt có mặt, anh Qui và chị Gìn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn anh Đạt trình bày: Vào ngày 01/02/2019 Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long có cho anh Phan Văn Qui và chị Lê Thị Gìn vay số tiền gốc là 20.000.000 đồng, thời hạn vay là 180 ngày tính kể từ ngày 31/7/2019, lãi suất trong hạn là 16%/năm và các thỏa thuận khác thể hiện trong hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019, cho vay không có tài sản thế chấp. Từ ngày vay tiền đến nay anh Qui, chị Gìn chỉ trả cho Ngân hàng được số tiền 14.385.388 đồng. Tính đến ngày 30/9/2020, anh Qui, chị Gìn còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 9.064.475 đồng. Tại đơn khởi kiện ngày 30/9/2020, Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phước Long buộc anh Phạm Văn Qui, chị Lê Thị Gìn phải trả nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 30/9/2020 tổng số tiền gốc và lãi là 9.064.475 đồng, tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2020 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A 726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019 cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng và sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu anh Qui và chị Gìn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng Kiên Long có quyền chỉ định tài sản khác để thực hiện việc yêu cầu phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Đến ngày 02/3/2021, Ngân hàng có đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phước Long buộc anh Phạm Văn Qui, chị Lê Thị Gìn phải trả nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 30/9/2020 tổng số tiền gốc và lãi là 9.064.475 đồng, tiền lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2020 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A 726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019 cho đến ngày thanh toán dứt nợ
- Bị đơn anh Phan Văn Qui, chị Lê Thị Gìn vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long. Tuy nhiên, hiện tại anh Qui và chị Gìn đã ly hôn nên buộc anh Phạm Văn Qui, chị Lê Thị Gìn mỗi người có nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long là 4.532.237 đồng (tính đến ngày 30/9/2020) và lãi suất phát sinh từ ngày 01/10/2020 đến khi trả nợ xong cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long kiện anh Phạm Văn Qui, chị Lê Thị Gìn về tranh chấp hợp đồng vay tiền tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, theo Hợp đồng tín dụng số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019 thì anh Qui, chị Gìn có địa chỉ ấp Phước Hòa A, thị trấn Phước Long, huyện phước Long nên Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía anh Võ Tấn Đạt có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh Qui và chị Gìn vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do nên việc xét xử vắng mặt anh Đạt, anh Qui và chị Gìn là phù hợp với quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định, vào ngày 01/02/2019 Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long có cho anh Phan Văn Qui, chị Lê Thị Gìn có vay số tiền gốc là 20.000.000 đồng, thời hạn vay là 180 ngày, lãi suất trong hạn là 16%/năm và các thỏa thuận khác thể hiện trong hợp đồng tín dụng số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019, việc cho vay tiền và không có tài sản thế chấp. Quá trình sử dụng tiền vay, anh Qui, chị Gìn có trả cho Ngân hàng một phần tiền nợ gốc và tiền nợ lãi. Tuy nhiên, kể từ ngày 30/9/2020, anh Qui, chị Gìn đã không trả nợ đúng hạn và khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long yêu cầu anh Qui, chị Gìn trả cho Ngân hàng tiền vay gốc là 9.064.475 đồng (Trong đó, nợ gốc là 6.666.667 đồng, tiền lãi trong hạn là 526.027 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.871.781 đồng tính đến ngày 30/9/2020) và tiền lãi quá hạn kể từ ngày 01/10/2020 cho đến khi trả hết nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Hội đồng xét xử thấy rằng, theo các tài liệu, chứng cứ và Hợp đồng tín dụng số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019 do Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long cung cấp thì anh Qui, chị Gìn có có vay của Ngân hàng số tiền gốc là 20.000.000 đồng, thời hạn vay là 180 ngày, lãi suất trong hạn là 16%/năm và các thỏa thuận khác thể hiện trong hợp đồng tín dụng số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019, theo đó địa chỉ cư trú của anh Qui, chị Gìn là ấp Phước Hòa A, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long nhưng hiện tại anh Qui, chị Gìn không có mặt tại nơi cư trú nhưng không có thông báo nơi cư trú mới cho Ngân hàng, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Phước Long niêm yết các văn bản tố tụng để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh Qui, chị Gìn không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên được xem là anh Qui, chị Gìn thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh.
Tại Bản án số 17/2021/HNGĐ-ST ngày 23/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long đã tuyên xử cho chị Lê Thị Gìn được ly hôn với anh Phan Văn Qui.
Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long đòi anh Qui, chị Gìn trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019.
Về án phí xét xử dân sự sơ thẩm có giá ngạch, anh Phan Văn Qui, chị Lê Thị Gìn phải nộp theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26; 35; 39; khoản 2 Điều 92 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 280; 463; 466 và 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long đòi anh Phan Văn Qui, chị Lê Thị Gìn trả nợ vay gốc và nợ vay lãi theo hợp đồng tín dụng số A726553/HĐTD-CC ngày 01/02/2019.
2/ Buộc anh Phan Văn Qui có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/9/2020 là 4.532.237 đ (Bốn triệu năm trăm ba mươi hai nghìn hai trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
3/ Buộc chị Lê Thị Gìn có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/9/2020 là 4.532.237 đ (Bốn triệu năm trăm ba mươi hai nghìn hai trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
4/ Về án phí xét xử dân sự có giá ngạch: Buộc anh Phan Văn Qui, chị Lê Thị Gìn mỗi người phải nộp số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long đã tạm ứng số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0009725 ngày 23/11/2020, sẽ được hoàn lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc cưởng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Baïc Lieâu - Ñöông söï - Ngöôøi tham gia toá tuïng khaùc - Löu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa- VKSND huyeän Phöôùc Long Quách Thanh Tồn |