- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TRanh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Q phải trả cho nguyên đơn bà Thạch Thị R tiền vốn vay là 50.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2021/DS-ST Ngày: 23/3/2021 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trƣơng Thoại Lƣợng
2. Ông Lâm Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2020/TLST-DS, ngày 01 tháng 6 năm 2020 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXX-ST, ngày 26 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2021/QĐST-DS ngày 25/02/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thạch Thị R , sinh năm 1990
Địa chỉ: Số 10/11, đường C, khóm B, phường T, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn R: Ông Phan Văn P, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số 175, đường L, ấp N, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt). Theo giấy ủy quyền ngày 16/3/2020.
2. Bị đơn: Ông Trần Q, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 424, đường Quốc lộ 1A ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2020 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Thạch Thị R: Ông Phan Văn P trình bày: Vào ngày 07/10/2019, bà Thạch Thị R và ông Trần Q cho ông Q vay tiền và có lập hợp đồng số tiền 50.000.000đ, lãi suất 01%/tháng, mục đích tiêu dùng, thời hạn vay 01 tháng tính từ ngày lập hợp đồng là từ ngày 07/10/2019 đến ngày 07/11/2019. Kể từ ngày 07/11/2019 cho đến nay tạm tính là 05 tháng x 1%/tháng = 500.000 đồng x 05 tháng = 2.500.000 đồng . Bà R nhiều lần đến nhà ông Q để đòi tiền vốn và lãi, nhưng ông Trần Q cứ hẹn mà không trả tiền vốn và lãi cho bà R.
Như vậy, bà Thạch Thị R khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trần Q phải trả tiền vốn vay còn thiếu: 50.000.000đ và tiền lãi là 2.500.000 đồng. Tổng vốn và lãi là 52.500.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Đối với ông Trần Q là bị đơn trong vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do và không có người đại diện tham gia phiên tòa, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
*Về quan hệ pháp luật và yêu cầu đương sự:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Q trả số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi 1%/tháng, tính từ ngày 07/11/2019 đến nay 05 tháng là 2.500.000 đồng. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Bên cạnh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án này và phía nguyên đơn có trình bày về nội dung yêu cầu phía bị đơn trả số tiền nợ vay 50.000.000 đồng và lãi suất 1%/tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi vay tài sản, phía nguyên đơn và bị đơn đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc vay tài sản trên cơ sở tự nguyện của hai bên, không trái đạo đức xã hội, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, nên việc vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là có căn cứ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với tiền vốn vay, thì thấy rằng: Bị đơn có vay tài sản của nguyên đơn 50.000.000 đồng thể hiện qua hợp đồng vay tài sản ngày 07/10/2019, phía bị đơn đã nhận và ký tên. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn ông Trần Q phải trả số tiền vốn vay là 50.000.000 đồng và tính lãi suất 1%/tháng, tính từ ngày 07/11/2019 đến nay là 05 tháng x 1%/tháng = 2.500.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 52.500.000 đồng. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; buộc bị đơn ông Trần Q phải trả cho nguyên đơn bà Thạch Thị R số tiền vốn vay và lãi là 52.500.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
* Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo qui định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể: 52.500.000 đồng x 5% = 2.625.000 đồng.
Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Châu Thành theo quy định của pháp luật.
* Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; điểm b Khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228; khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Trần Q phải trả cho nguyên đơn bà Thạch Thị R tiền vốn vay là 50.000.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 07/11/2019 đến nay là 05 tháng x 1%/tháng = 2.500.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 52.500.000 đồng.
2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị đơn còn phải trả lãi cho nguyên đơn mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
3. Về án phí: bị đơn ông Trần Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, cụ thể: 52.500.000 đồng x 5% =2.625.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 1.313.000 đồng theo biên lai thu số 0001328, ngày 24/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhẫn |