vanban.org

Bản án 18/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 12/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Trần Quang B 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/ HSST
Ngày 12/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TI ỀN HẢI, TỈNH THÁI B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu và bà Trần Thị Cúc.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B tham gia phiên Tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Binh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2020/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXX- HSST ngày 28/4/2020 đối với bị cáo:

Trần Quang B, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Thôn ChC, xã NC, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 07/10. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Trần Văn G và bà Phan Thị H (Đều đã chết). Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ 3. Vợ: Lâm Thị Chiện. Bị cáo có ba con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2007.

Nhân thân: Ngày 19/7/2012, Uỷ ban nhân dân huyện Tiền Hải quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm cai nghiện 05 - 06 tỉnh Thái B, thời gian là 12 tháng, kể từ ngày 08/8/2012 đến 08/8/2013 chấp hành xong thời hạn đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Bản án số 41/HSST ngày 19/8/1988 Tòa án nhân dân tỉnh Thái B xử phạt 06 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân".

Bản án số 53/2008/HSPT Ngày 03/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Thái B xử phạt 15 tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Ngày 02/4/2010 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 21/12/2012 chấp hành xong án phí. Bản án này đã được xóa án tích.

Bản án số 24/HSST ngày 09/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xử B 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2015. Ngày 26/4/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 12/8/2015 chấp hành xong 200.000 đồng tiền án phí.

Tiền sự: Quyết định số 26/QĐXLHC ngày 24/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Trần Quang B thời gian là 18 tháng. Bị cáo chưa đi chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trên.

Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 29/12/2019, sau đó chuyển tạm giam (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Thái B, sinh năm 1955. Nơi cư trú: Thôn ThCh, xã NTh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B.

2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn HCh, xã NTh,

huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B. ( Ông B, anh Đ đều vắng mặt tại phiên Tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 11giờ 30 phút ngày 26/12/2019, B đi nhờ xe mô tô của một người đi đường ra khu vực chợ Nam Hưng thuộc xã Nam Hưng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến chợ Nam Hưng, B gặp 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ hỏi mua 200.000 đồng ma túy, người đàn ông này nhận 200.000 đồng tiền B đưa sau đó đưa lại cho B 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Do sử dụng ma túy nên B biết đó là gói ma túy, B cầm gói ma túy vừa mua trong lòng bàn tay trái và đi bộ về. Khi đi đến khu vực đường đê số 5 thuộc địa phận thôn Thiện Tường, xã NTh, huyện Tiền Hải thì bị Công an huyện Tiền Hải phát hiện. Công an huyện Tiền Hải đã đưa B và mời những người làm chứng về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã NTh để làm việc. Tại đây trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương, người làm chứng B đã tự giác giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 gói nhỏ được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng B khai là ma túy mua về với mục đích để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 506/KLGĐ – PC- 09 ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái B, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1847 gam.

Tại phiên Tòa bị cáo B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 18/KSĐT ngày 18/3/2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố bị cáo Trần Quang B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo B về tội danh và điều luật như bản cáo trạng số 18/KSĐT và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Quang B. Xử phạt bị cáo Trần Quang B từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo B không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội đối với bị cáo tại phiên Tòa. Bị cáo B nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Tiền Hải lập hồi 12 giờ 30 ngày 26/12/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã NTh, huyện Tiền Hải. Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu.

- Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Công an huyện Tiền Hải lập ngày 26/12/2019 tại UBND xã NTh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B.

- Bản kết luận giám định số 506/KLGĐ-PC09 ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái B, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1847 gam.

- Lời khai của những người làm chứng là ông Nguyễn Thái B và anh Nguyễn Văn Đ.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 26/12/2019, tại khu vực đường đê số 5 thuộc địa phận thôn Thiện Tường, xã NTh, huyện Tiền Hải, Công an huyện Tiền Hải phát hiện bắt quả tang Trần Quang B có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,1847 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Do đó, hành vi của bị cáo B đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

.................................................................................................................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu và có tiền sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt: Về hình phạt chính: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo B đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy. Do đó hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cai được ma túy đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân không nhằm mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với số Heroine, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Trần Quang B còn lại sau khi giám định là 0,1326 gam và bao gói, cần áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về nguồn gốc Heroine: Số ma túy 0,1847 gam Heroine mà cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải thu giữ của Trần Quang B, B khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực chợ Nam Hưng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không đủ cơ sở điều tra xác minh, làm rõ người bán ma túy cho B để xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo Trần Quang B phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật hình sự .

Xử phạt bị cáo Trần Quang B 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2019.

3. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy số Heroine thu được của bị cáo Trần Quang B còn lại sau khi giám định là 0,1326 gam và bao gói.

(Toàn bộ số vật chứng trên Cơ quan điều tra Công an huyện Tiền Hải đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái B có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2020).

4. Về án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Quang B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Quang B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 12/5/2020.

Cỡ chữ