vanban.org

Bản án 18/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 23/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vương Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt: Bị cáo Vương Văn M 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 21 tháng 6 năm 2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vương Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ QUẢNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HSST
Ngày 23/9/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đàm Thị Ngân.

2. Bà Tô Thị Thi.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thiết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Vƣơng Văn M (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 04 tháng 10 năm 2000, tại xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc Tịch: Việt Nam; Con ông Vương Văn L (đã chết) và bà Sầm Thị L; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt ngày 21/6/2020 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Hà Quảng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Sầm Thị L (Mẹ đẻ bị cáo M), sinh năm 1978. Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 6 năm 2020 tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, qua kiểm tra Công an huyện Hà Quảng phát hiện Vương Văn M đang đi xe mô tô theo hướng từ thành phố C về thị trấn T đang cất giấu trong túi quần đằng trước bên trái 01 gói nhỏ bằng giấy bạc vỏ bao thuốc lá bên trong có nhiều cục vụn, bột màu trắng ngà. M khai nhận số chất bột màu trắng ngà vừa bị thu giữ là heroine M mua ở thành phố C. Công an huyện Hà Quảng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha BKS 11H1- 21682 kèm theo chìa khóa và giấy đăng ký mang tên Vương Văn M, 01 điện thoại di động OPPO nắp sau màu tím, Tiền VNĐ 150.000 đồng (bút lục số: 01,02).

Ngày 22/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã tiến hành khám xét chỗ ở của Vương Văn M qua khám xét không thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì thêm.

Ngày 22/6/2020, Các cơ quan chức năng đã tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng số tang vật thu được. Tổng khối lượng tang vật (nghi heroine) thu được của Vương Văn M là 0,14 gam (không phẩy một bốn gam). Đồng thời cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã niêm phong và gửi tất cả số tang vật thu giữ được của Vương Văn M xuống Công an tỉnh giám định (không hoàn trả lại).

Tại kết luận giám định số 197/GĐMT, ngày 06/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất màu trắng ngà giám định là ma túy, loại ma túy là heroine (bút lục số: 11).

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Vương Văn M khai nhận: Bản thân bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 5/2020, M một mình nhiều lần ra khu vực thành phố C tìm mua heroine. M đã mua heroine với nhiều người không quen biết. Lần nhiều nhất mua 400.000 đồng, lần ít nhất mua 200.000 đồng (đều không rõ khối lượng). Khoảng 10 ngày M lại đi mua heroine một lần. Ngày 21/6/2020 khoảng 21 giờ, M một mình lấy xe mô tô BKS 11H1-26182 ra khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng mua heroine với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không quen biết), số tiền mua là 400.000 đồng. Khi về đến địa phận Tổ dân phố X, thì bị bắt quả tang. Mục đích M mua ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng của bản thân.

Về các đồ vật, tài sản tạm giữ, qua điều tra xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, BKS 11H1 – 21682 nguồn gốc xe là do bà Sầm Thị L bỏ tiền ra mua để phục vụ nhu cầu đi lại của gia đình, Vương Văn M chỉ là người đứng tên đăng ký; 01 điện thoại di động OPPO nắp sau màu tím và số tiền VNĐ 150.000 đồng là tài sản của Vương Văn M.

Trong vụ án này, đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi tại khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng đã bán heroine cho Vương Văn M, do không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã đề nghị truy tố bị cáo Vương Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số: 18/CT-VKSHQ ngày 03 tháng 9 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng để xét xử bị cáo Vương Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu đều phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Vương Văn M từ 12 đến 15 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng: Trả lại tài sản chiếc xe máy, giấy đăng ký xe đứng tên bị cáo cho mẹ bị cáo quản lý, sử dụng trong thời gian bị cáo đi chấp hành án phạt tù, trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động OPPO và số tiền thu giữ là 150.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về với cộng đồng trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2} Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Ngày 21 tháng 6 năm 2020 bị cáo Vương Văn M đã có hành vi tàng trữ 0,14 gam heroine với mục đích sử dụng cho bản thân bị cáo ngoài ra không có mục đích nào khác. Hành vi của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

{3} Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã tàng trữ 0,14 gam heroine để sử dụng khối lượng ma túy thuộc điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

{4} Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

{5} Xét về nhân thân bị cáo có nhân thân tốt, trước khi xét xử bị cáo không có tiền án, tiền sự, chưa bị bắt buộc phải đi cai nghiện tập trung. Tuy nhiên để nhằm trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy của Đảng và Nhà nước ta cần phải cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và làm gương cho kẻ khác.

{6} Về nguồn gốc số heroine thu giữ bị cáo khai mua với người đàn ông khoảng 30 tuổi, tại khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng, hành vi mua bán đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý. Nhưng quá trình điều tra không xác định rõ được họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng nên không có căn cứ xử lý ở vụ án này đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

{7} Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy, theo xác nhận của chính quyền địa phương gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo năm 2020, có điều kiện kinh tế khó khăn, bố mât sớm, chị gái đi lấy chồng, chỉ có hai mẹ con chung sống, bị cáo tuổi còn trẻ phụ thuộc mẹ chưa có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.

{8} Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đen bạc, BKS 11H1 – 21682 xe cũ đã qua sử dụng, số khung 3918KY189760, số máy JA39E1047471 (kèm 01 chìa khóa xe); 01 giấy đăng ký xe số 016510 mang tên Vương Văn M. Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa xác định chiếc xe này bị cáo đã dùng làm phương tiện vận chuyển heroine nên là vật chứng vụ án, cần phải tịch thu. Tuy nhiên xét thấy chiếc xe này đứng tên trong đăng ký xe là tên bị cáo, nhưng toàn bộ số tiền mua xe là của mẹ bị cáo tích cóp có được để mua .. gia đình bị cáo chỉ có chiếc xe máy này là phương tiện duy nhất để đi lại phục vụ cuộc sống hàng ngày. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét, xét thấy không cần thiết phải tịch thu chiếc xe này mà trả lại cho bị cáo và giấy đăng ký xe (kèm theo chìa khóa xe). Nhưng vẫn phải tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, nắp sau màu tím, số IMEl 1: 863755041411138, IMEl 2: 863755041411120. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc điện thoại này bị cáo chỉ sử dụng liên lạc cho cá nhân, không liên quan dến việc mua bán ma túy. Do vậy, không phải là vật chứng của vụ án, nên cần trả lại cho bị cáo.

+ Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng), là do bị cáo trồng trọt, bán ngô dành dụm được, không phải là tiền do bán ma túy mà có. Do vậy, không phải là vật chứng của vụ án, nên cần trả lại cho bị cáo.

{9} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vương Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt: Bị cáo Vương Văn M 12 (Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 21 tháng 6 năm 2020).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ Tuyên trả lại cho bị cáo Vương Văn M gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, nắp sau màu tím, số IMEl 1: 863755041411138, IMEl 2: 863755041411120; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 150.000 đồng (Một trăm năm mươi ngàn đồng) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha màu đen bạc, BKS 11H1 – 21682 xe cũ đã qua sử dụng, số khung 3918KY189760, số máy JA39E1047471 (kèm 01 chìa khóa xe); 01 giấy đăng ký xe sô 018510 mang tên Vương Văn M. Giao xe cho Mẹ bị cáo quản lý, sử dụng trong thời gian bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. Nhưng vẫn phải tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Xác nhận vật chứng trên đã được Công an huyện Hà Quảng bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Quảng hồi 09 giờ 30 phút ngày 07 tháng 9 năm 2020).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vương Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng vào các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ