vanban.org

Bản án 18/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sồng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Sồng A C 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15/12/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 18/2020/HS-ST
Ngày 18/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Tiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Định – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Sồng A C, sinh năm 1980, tại huyện V, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản B 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sồng A S (đã chết) và bà Thào Thị M; bị cáo có vợ là Vàng Thị C và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/5/2013 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 04 năm 06 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2017 (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 15 phút, ngày 15/12/2019, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực Tiểu khu 1/5, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Sồng A C (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Sồng A C đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu đen tiếp đến là lớp nilon màu xanh, bên trong đựng 10 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY. Sồng A C khai là Methamphetamine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải Sồng A C về Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ, tạm giữ của Sồng A C 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA-EXCITER màu sơn đen, biển kiểm soát 26P1-073.23.

Ngày 15/12/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với VKSND huyện Mộc Châu và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Sồng A C, kết quả: 10 viên nén màu hồng thu giữ của Sồng A C có khối lượng 0,95 gam, lấy hết 05 viên có khối lượng 0,47 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “C”. Cơ quan Công an huyện Mộc Châu ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 16 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy, loại chất Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,95 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Sồng A C khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 15/12/2019, Sồng A C mượn xe máy nhãn hiệu YAMAHA-EXCITER màu sơn đen, biển kiểm soát 26P1-073.23 của Sồng A P, sinh năm 2002 là con trai của C và đang ở cùng nhà với C để đi có việc riêng. Sau khi mượn xe C một mình điều khiển xe máy đi đến bản P, xã V, huyện V mục đích tìm mua ma túy để sử dụng, khi C đang đi trên đường dân sinh thuộc bản P, xã V, huyện V thì gặp một cháu gái người dân tộc Mông khoảng 9 đến 10 tuổi. Qua trao đổi C hỏi và mua được 01 gói nilon màu đen, tiếp đến là lớp nilon màu xanh bên trong đựng 11 viên nén màu hồng là Methamphetamine với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy C đi vào bụi cây ven đường lấy 01 viên Methamphetamine ra sử dụng hết, còn lại 10 viên Methamphetamine C gói lại như ban đầu rồi cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi đến chợ K, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La để mua đồ. Khi C đi đến khu vực tiểu khu 1/5, thị trấn N, huyện M thì bị Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị cáo Sồng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố Sồng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Sồng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Sồng A C từ 21 tháng đến 24 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 05 viên Methamphetamine = 0,48 gam cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng A C.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Sồng A C thừa nhận: Hồi 11 giờ 15 phút ngày 15/12/2019, Sồng A C đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói nilon màu đen tiếp đến là lớp nilon màu xanh bên trong đựng 10 viên Methamphetamine có khối lượng 0,95 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, ngày 31/5/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 04 năm 06 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2017 (đã được xóa án tích). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 05 viên = 0,48 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng A C, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA - EXCITER - màu sơn đen, biển kiểm soát 26P1-073.23, số khung: 1010KY162976, số máy: G3D4E930102, tên chủ xe: Sồng A P, sinh năm 2002, địa chỉ: Bản B 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La (xe đã qua sử dụng cũ). Quá trình điều tra xác định, chiếc xe máy là tài sản hợp pháp của Sồng A P, sinh năm 2002, nơi cư trú: Bản B 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La, việc bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội Sồng A P hoàn toàn không biết và không liên quan. Việc cơ quan CSĐT đã giao trả chiếc xe cho Sồng A P quản lý và sử dụng là đúng quy định của pháp luật, do đó không đề cập tới việc giải quyết.

Đối với cháu gái người dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Sồng A C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Sồng A C 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 15/12/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Sồng A C, bắt ngày 15/12/2019: Bên trong đựng 05 viên = 0,48 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 Phong bì niêm phong bên ngoài ghi que thử test ma túy đối với Sồng A C, ngày 15/12/2019, kq: Dương tính. Bên trong phong bì đựng test thử ma túy của Sồng A C.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Sồng A C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/02/2020.

Cỡ chữ