- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS - ST Ngày: 13 - 3 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn, ông Nguyễn Thanh Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2020/TLST - HS ngày 19 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15A/2020/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1973 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nơi cư trú: Khu dân cư B, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Dương Thị H; có vợ là Dương Thị H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2019 đến ngày 21/12/2019 thì bị tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.
* Những người làm chứng:
- Ông Dương Văn L, sinh năm 1961;
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972
Đều cư trú: Khu dân cư B, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Th là người nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ, ngày 19/12/2019, Th dùng điện thoại Nokia màu đen trắng gọi cho một người thanh niên tên là N (không rõ lai lịch, địa chỉ) với nội dung “để cho anh một gói hai” (nghĩa là hỏi mua gói ma túy với giá 200.000 đồng) để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Th điều khiển xe môtô nhãn hiệu Lifan Dream, biển kiểm soát 34K3 – 0472 (xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Thụ do bị cáo mượn) đến khu vực ngã tư T, thuộc khu dân cư H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương gặp N. Th đưa cho N số tiền 200.000 đồng và nhận của N 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước 1 x 1,5cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine. Th cất túi ma túy vào lỗ ốc chân gương chiếu hậu bên phải của xe môtô rồi điều khiển xe về nhà. Hồi 22 giờ 10 phút cùng ngày, Th điều khiển xe môtô đến sân nhà ở của mình thuộc khu dân cư B, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì bị công an phường A, thành phố C phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy rơi ra từ lỗ ốc chân gương chiếu hậu của xe môtô xuống đất.
Tại bản kết luận giám định số 34/KLGĐ - PC09 ngày 22/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước 1 x 1,5cm mà Th cất giữ có khối lượng là 0,368 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS - CL ngày 17/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đối với mình là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/12/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 0,303 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 22 giờ 10 phút ngày 19/12/2019, tại sân nhà ở của mình, thuộc khu dân cư B, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Th có hành vi cất giấu trái phép 0,368 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân bị lực lượng Công an phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy để sử dụng không bán lại nhằm mục đích kiếm lời nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy, loại Methamphetamine đã thu giữ của bị cáo, sau khi giám định hoàn lại là 0,303 gam và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Lifan (Dream), biển kiểm soát 34K3 – 0472 là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T cho bị cáo mượn, anh T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Chí Linh đã trả lại chiếc xe trên cho anh Thụ là phù phợp nên không đặt ra xử lý.
Đối với đối tượng bị cáo khai tên là N ở phường S, thành phố C đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/12/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,303 gam ma túy, loại Methamphetamine và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 34/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/02/2020 giữa Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - CC THADS thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an thành phố Chí Linh; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |