- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Trường G, sinh năm 1994 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Trường G phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày: 20 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Duy Thanh
- Bà Ngô Thị Lệ Thi
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Huỳnh Trường G, sinh năm 1994; nơi sinh: An Phú – An G; nghề nghiệp: không; nơi cư trú: ấp Hà Bao 1, xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An G; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1961 và bà Trần Kim E, sinh năm 1964; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người cuối cùng; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và không có án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2019 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Lê Kim H, sinh năm 1996;
2. Nguyễn Hoài T, sinh năm 1990;
3. Trần Quốc B, sinh năm 1994;
4. Võ Văn P, sinh năm 1998;
5. Nguyễn Văn N, sinh năm 1990;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 09/9/2019, lực lượng phối hợp Công an thành phố và Công an phường Châu Phú B kiểm tra phòng trọ số 15, nhà trọ “A Tỷ” thuộc tổ 11, khóm Châu Long 7, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc do Huỳnh Trường G thuê, phát hiện lập biên bản bắt quả tang, thu giữ của G 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể trắng; 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín chứa chất bột và viên nén màu vàng, dụng cụ phân chia, sử dụng ma túy. G khai nhận mua và cất giấu ma túy, để bán cho những người nghiện.
Vật chứng thu giữ do Huỳnh Trường G giao nộp gồm: 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể trắng (nghi vấn ma túy đá); 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín chứa chất bột và viên nén màu vàng; 10 túi nhựa trong suốt, hàn kín; 01 cân tiểu li, màu đen, bị vỡ; 02 cây kéo y tế bằng inox; 01 điện thoại di động hiệu OPPO vỏ màu đỏ - đen đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 20.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 174/KLGT-PC09(MT) ngày 16/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,6234g; Mẫu M2 gửi đến giám định không phải là ma túy, khối lượng 0,7655g.
Cáo trạng số 08/CT-VKSCĐ ngày 31/01/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Huỳnh Trường G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi chung Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận, bị cáo là người nghiện ma túy, bắt đầu bán ma túy cho các đối tượng nghiện từ khoảng tháng 8/2019. Ma túy bị cáo có được là do bị cáo mua của người tên Vương (không rõ họ, tên, địa chỉ) đem về phân chia bán cho nhiều đối tượng trong đó có Nguyễn Hoài Thanh, Trần Quốc Bửu, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Nhựt mỗi người từ 01 đến 03 lần, mỗi lần từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Cách thức là người mua ma túy điện thoại cho bị cáo, bị cáo hẹn đến phòng trọ và nhận tiền trước, đưa ma túy sau. Từ thời điểm bán ma túy đến ngày bị bắt, bị cáo thu lợi được 3.800.000 đồng; các vật dụng đã bị thu giữ là của bị cáo dùng để phân chia ma túy, điện thoại bị cáo dùng để mua, bán ma túy. Riêng số tiền 20.000.000 đồng là của bạn gái Lê Kim Hảo dùng để đóng học phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên trình bày:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng - những người trực tiếp mua ma túy của bị cáo cũng như vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, có cơ sở xác định, bị cáo đã nhiều lần có hành vi bán ma túy cho đối tượng nghiện và bán ma túy cho nhiều đối tượng nghiện gồm: Nguyễn Hoài Thanh, Trần Quốc Bửu, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Nhựt. Do đó, cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước; gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình lượng hình, đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét đối với bị cáo về sự thành khẩn khai báo, quá trình điều tra đã tự thú khai nhận đối với những lần bán ma túy trước đó; bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 7 năm đến 8 năm tù; đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung, xử phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về áp dụng biện pháp tư pháp, trong thời gian bị cáo bán ma túy, bị cáo khai nhận số tiền hưởng lợi từ việc bán ma túy cho các đối tượng nghiện là 3.800.000 đồng, đề nghị buộc bị cáo có trách nhiệm giao nộp lại số tiền đã thu lợi 3.800.000 đồng từ hành vi phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với vật chứng được thu giữ trong vụ án, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người tên Vương (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau; Võ Văn Phú, Nguyễn văn Nhựt, Trần Quốc Bửu có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra chuyển xử lý vi phạm hành chính theo luật định.
Trường hợp bị cáo cất giấu chất bột và viên nén màu vàng, kết luận giám định không phải là ma túy nên không có căn cứ xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng,
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân thành phố Châu Đốc; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, những người làm chứng Thanh, Bửu, Phú, Nhựt vắng mặt; bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người làm chứng. Xét, những người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt tại phiên tòa, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về nội dung,
Hành vi phạm tội:
Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của những người làm chứng (người nghiện ma túy – trực tiếp mua ma túy từ bị cáo để sử dụng): Nguyễn Hoài Thanh (mua 03 lần, mỗi lần với giá 100.000 đồng, loại thuốc lắc), Trần Quốc Bửu (mua 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng, loại ma túy đá), Võ Văn Phú (mua 01 lần với giá 100.000 đồng, loại ma túy đá), Nguyễn Văn Nhựt (mua 02 lần, mua lần 01 vào tháng 8/2019, giá 200.000 đồng, loại ma túy đá; lần 2 vào ngày 09/9/2019 chưa mua được thì bị bắt) được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp nhau về khoảng thời gian, địa điểm cũng như cách thức mua bán, loại ma túy và giá tiền mà bị cáo đã bán ma túy.
Ngoài ra, hành vi mà bị cáo đã thực hiện còn phù hợp với các nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa như: Kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, trong khoảng thời gian từ tháng 8/2019 đến tháng 09/2019, bị cáo G đã nhiều lần có hành vi bán ma túy loại Methamphetamine cho nhiều người nghiện ma túy, trong đó có Nguyễn Hoài Thanh, Trần Quốc Bửu, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Nhựt. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán ma túy là vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện mua ma túy về phân chia bán cho nhiều người.
Vì vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung cấu thành tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như nội dung cáo trạng truy tố.
Ma túy là chất gây nghiện, là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý, đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Xét, cần có mức hình phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tạo điều kiện để bị cáo nhận thức sâu sắc hơn về hành vi đã thực hiện, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội như quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự thú về các hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó. Xét về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thuộc thành phần nhân dân lao động, học vấn thấp có sự hạn chế trong hiểu biết pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét áp dụng khi lượng hình, quyết định hình phạt đối với bị cáo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
Hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo có thu lợi từ hành vi bán ma túy nên phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo có trách nhiệm giao nộp số tiền bị cáo thu lợi từ việc phạm tội là 3.800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì ghi niêm phong vụ số 174/KLGĐ – PC09 ngày 16/9/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Nguyễn Đăng Khoa, Ôn Văn Thuận; 01 cân tiểu li màu đen bị bể không có nắp đậy; 10 bọc nylon trong suốt, loại bọc dài hàn kín; 02 cây kéo inox, loại kéo ý tế (kéo cắt và kéo bóp), đây là dụng cụ bị cáo sử dụng để phân lẻ và sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước đối với phương tiện phạm tội 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen, kiểu máy CPH1923, imei1: 865498047958657; imei2: 865498047958640, cùng sim vinaphone số 89840; 20002; 16293; 40784 (máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
Số tiền 20.000.000 đồng trong giai đoạn Điều tra trả lại cho chị Lê Kim Hảo đã xong nên không đề cập xử lý.
Những vấn đề khác:
Đối với người tên Vương (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau theo quan điểm của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Riêng Võ Văn Phú, Nguyễn văn Nhựt, Trần Quốc Bửu là đối tượng nghiện, cơ quan chức năng đã xử lý nên không đề cập trong vụ án.
Trường hợp bị cáo G cất giấu chất bột và viên nén màu vàng, kết luận giám định không phải là ma túy nên không có căn cứ xử lý theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Trường G phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Trường G: 08 (Tám) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 11/9/2019 .
Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Buộc bị cáo Huỳnh Trường G nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì ghi niêm phong vụ số 174/KLGĐ – PC09 ngày 16/9/2019 có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Nguyễn Đăng Khoa, Ôn Văn Thuận; 01 cân tiểu li màu đen bị bể không có nắp đậy; 10 bọc nylon trong suốt, loại bọc dài hàn kín; 02 cây kéo inox, loại kéo ý tế (kéo cắt và kéo bóp), đây là dụng cụ bị cáo sử dụng để phân lẻ và sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước đối với phương tiện phạm tội 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen, kiểu máy CPH1923, imei1: 865498047958657; imei2: 865498047958640, cùng sim vinaphone số 89840; 20002; 16293; 40784 (máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Buộc bị cáo Huỳnh Trường G giao nộp số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Huỳnh Trường G phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trịnh Thị Ngọc Hà |