- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày 22 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thu Thủy
Ông Mùi Văn Hoạt
-Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không, sinh năm 1975 tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Bản Th, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1942 và bà Đinh Thị V (đã chết); có vợ là Bùi Thị H, sinh năm 1976 và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/4/2016, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng, chấp hành xong ngày 14/4/2018.
- Bị bắt giam giữ từ ngày 17/01/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Bản Th, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H là người nghiện ma túy, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/01/2020, Nguyễn Văn H một mình điều khiển xa máy BKS: 26P1-058.75 đi từ nhà tại bản Th đến Bản Ch, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La mục đích là để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đường dân sinh của bản Ch, H đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 viên hồng phiến và 01 gói Heroine đều được gói bằng nilon màu hồng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy H cho gói hồng phiến và gói Heroine vào một mảnh nilon màu hồng rồi cất giấu vào chiếc giày da đang đi ở chân trái và điều khiển xe đi về, H đi được một đoạn thì tổ công tác Công an huyện V kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: Toàn bộ số ma túy, 100.000 đồng tiền NHNNVN, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại Wave màu trắng xanh BKS: 26P1-058-75 và 01 đôi giày da màu đen có chữ VEC3A.
Ngày 16/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng chất bột màu trắng và viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn H, kết quả: Số chất bột màu trắng được 0,42 gam lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu H. Viên nén màu hồng được 0,08 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu H1. Mẫu giám định H, H1 được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại chất ma túy, khối lượng ma túy.
Kết luận giám định số: 251 ngày 20/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,42 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,42 gam, loại Heroine và 0,08 gam loại Methamphetamine. Hoàn lại mẫu giám định chất bột màu trắng là 0,30 gam và chất màu hồng là 0,04 gam”.
Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 03/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện V giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dụng cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 (hai mươi tư) tháng tù đến 30 (ba mươi tháng) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Nguyễn Văn H.
Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 0,30 gam Heroine và 0,04 gam Methamphetamine, 01 phong bì đã niêm phong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Văn H, 01 đôi giày da màu đen. Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị H chiếc xe máy HONDA loại Wave BKS: 26P1-058.75, trả lại bị cáo 100.000 đồng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Văn H về tội trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can thể hiện: Ngày 16/01/2020, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ 0,42 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo tàng trữ hai loại ma túy, căn cứ Điều 4 Nghị Định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ thì tổng khối lượng của hai chất ma túy của Nguyễn Văn H là 0,42 gam Heroine + 0,08 gam Methamphetamine = 0,50 gam. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ đã vi phạm quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân bị cáo đã được đi cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi hết thời hạn cai nghiện vẫn không đoạn tuyệt với ma túy, tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Văn H đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Nguyễn Văn H có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Đối với nguồn gốc số ma túy thu giữ: Theo lời khai của Nguyễn Văn H mua của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết. Do đó, Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Buộc Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã thu giữ.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 0,30 gam Heroine và 0,04 gam methamphetamine, 01 phong bì đã niêm phong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Văn H, 01 đôi giày da màu đen có chữ VEC3A đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại Wave BKS: 26P1-058.75 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Việc bị cáo dùng xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết, chiếc xe là phương triện đi lại duy nhất của gia đình nên tuyên trả lại cho chị Bùi Thị H.
Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2020.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 0,30 gam Heroine và 0,04 gam methamphetamine; 01 phong bì đã niêm phong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Văn H; 01 đôi giày da màu đen có chữ VEC3A đã qua sử dụng.
Trả lại chị Bùi Thị H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại Wave màu trắng xanh BKS: 26P1-058.75
Trả lại bị cáo 100.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |