- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày 29-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cần
Ông Vũ Hữu Mạnh
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-HS ngày16/4/2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Thào A C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1975; Nơi sinh: huyện T, Lai Châu; Nơi cư trú: bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Thào A Ch (đã chết) và con bà Hờ Thị M, đã chết; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Sùng Thị D, sinh năm 1976; con: có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 06/01/2019 bị cáo được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 11 giờ ngày 28/12/2019 Thào A C đi bộ từ nhà lên nhà Thào A D trú cùng bản để nhờ D lấy xe mô tô của D để đưa C xuống xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên mua thuốc giảm đau cho vợ là Sùng Thị D, D đã đồng ý. Sau khi mua được thuốc giảm đau xong thì C rủ D đi xuống bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên chơi. Trên đường đi C đổ xăng xe cho Dình hết 20.000đồng. Khi đến bản Noong Thăng C bảo D dừng xe để C xuống xe rồi một mình đi bộ vào trong bản không nói cho D biết việc đi vào bản để làm gì, D đứng đợi ở ngoài. Vao đến bản C gặp một người đàn ông dân tộc Thái, không rõ nhân thân, lai lịch, qua trao đổi C hỏi người đàn ông đó “ Có không, nếu có xin năm mươi nghìn”, người đàn ông này hiểu C hỏi mua Heroin nên trả lời “Ở đây có một ít thôi” và C đã đưa người đàn ông đó 50.000đồng và người đàn ông đưa cho C 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh cùng một mảnh giấy bạc màu trắng để sử dụng. C cầm mảnh giấy bạc màu trắng xé ra thành 02 mảnh và chia gói Heroin thành 03 phần, một phần cho vào mảnh giấy bạc để đưa cho D sử dụng, một phần C cho vào mảnh giấy bạc để C sử dụng, phần còn lại C gói bằng mảnh nilon màu xanh ban đầu và cất vào trong ví da màu đen của C không cho D biết, mục đích mang về làm thuốc giảm đau cho vợ. Sau khi mua được Herroin, C đi ra chỗ D đứng đợi và đưa cho D một phần Heroine để cùng nhay xuống rãnh nước ven đường sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma túy xong C và D đi về nhà, đến bản P, xã T, huyện T thì bị lực lượng Công an huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang thu giữ trong ví giả da màu đen của C 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh có khối lượng 0,15gam, mục đích mang về làm thuốc giảm đau cho vợ bị ngã.
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Kết quả: 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh thu giữ của Thào A C có khối lượng là 0,15gam.
Tại kết luận giám định số 35/GĐ-KTTH ngày 06/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “Một mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Thào A C gửi đến giám định là ma túy, loại: Heroin”
Bản cáo trạng số 18/CT - VKS - TU ngày 13/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên đã truy tố bị cáo Thào A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Thào A C thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vợ thường xuyên đau ốm và con còn rất nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu,Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 28/12/2019 tại bản Phiêng Phát 1, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu bị cáo Thào A C có hành vi tàng trữ trái phép 0,15gam Heroin, mục đích để mang làm thuốc giảm đau cho vợ bị ngã bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Thào A C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng bị cáo cố ý tàng trữ Heroin để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Thào A C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán , vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…
...
b) Heroine,...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; từ nhỏ sống phụ thuộc gia đình tại bản H, xã T, huyện T. Năm 2016 bị cáo lấy vợ và ra ở riêng cũng cùng bản H, xã T.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật còn có phần hạn chế nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục răn đe, giáo dục,cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo làm ruộng, nguồn thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
01 chiếc ví giả da màu đen thu giữ của bị cáo. Xét thấy vật chứng là của bị cáo mà bị cáo đã dùng để cất giấu ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroin bị cáo khai của mua của người đàn ông dân tộc Thái không rõ nhân thân, lai lịch tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Thào A D là người lấy chiếc xe mô tô đưa C xuống xã Pắc Ta, huyện Tân Uyên để mua thuốc giảm đau cho vợ C và cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Việc C đi mua Heroine và mang về chia cho D cùng sử dụng, C không bàn bạc và cũng không nói cho D biết việc đi mua Heroine về cùng sử dụng. Ngoài lời khai của C khai D có biết việc C cất giấu Heroin trong người. Kết quả đối chất D không thừa nhận nên không đủ cơ sở để xử lý đối với D.
Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo theo giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo số 88.CN-HN-HCN ngày 02/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 13 (Mười ba) tháng. Khấu trừ 09 (Chín) ngày tạm giữ, còn lại bị cáo phải chấp hành 12 (Mười hai) tháng 21 (Hai mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.
[3] Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 ví giả da màu đen thu giữ của bị cáo Thào A C.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 23/4/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).
[4] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dương Thị Tuyết Thanh |