vanban.org

Bản án 18/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trọng C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Bùi Trọng C 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2019. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,143gam (Không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) Heroine hoàn lại sau giám định (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trọng C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trọng C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HS-ST
Ngày: 21/4/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG- TỈNH HẢI DƢƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quý Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Duy Tuần;

2. Bà Phạm Thị Tuẫn.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Loan- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang- tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Lân- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang mở phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:17/2020/QĐXXST- HS, ngày 31 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Trọng C, sinh năm 1983 tại Ninh Bình; Nơi C1 trú: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh N; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Trọng Tr, sinh năm 1952 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1952; có vợ và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 43/2011/HSST ngày 30/5/2011 của TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt Bùi Trọng C 24 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; đã thi hành 200.000 đồng tiền án phí HSST ngày 07/7/2011, ra trại ngày 29/4/2012 (đã được xóa án tích); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ- XPVPHC ngày 24/7/2016 của Trưởng công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Trọng C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức Cảnh cáo; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 222/QĐ- XPVPHC ngày 18/8/2016 của Trưởng công an huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Trọng C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền 500.000 đồng, chưa thi hành (Đã hết thời hiệu thi hành); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2019, chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2019 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

Những người chứng kiến: Anh Lê Văn M, sinh năm 1989; Địa chỉ: thôn X, xã T, huyện N, tỉnh H; Ông Đàm Văn S, sinh năm 1968; Địa chỉ: khu 5, phường T, thành phố H, tỉnh H; Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/12/2019, tại địa bàn xã C, huyện C, tỉnh H, Bùi Trọng C (là đối tượng nghiện ma túy), điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng- đen- bạc, biển kiểm soát 29X1- 675.72, mượn của anh Hà Viết C1, sinh năm 1986; HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện C, thành phố H(Là bạn cùng làm thuê tại công trình thủy lợi tại xã C- huyện C- tỉnh H) nói là đi giải quyết việc riêng. C điều khiển xe mô tô trên đến huyện Ng, tỉnh H mục đích mua ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực ngã tư B đường tỉnh lộ 396 thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện N, tỉnh H, C gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ tên, tuổi và địa chỉ), hỏi mua được của người này 01 (một) gói giấy màu trắng, kích thước 05 x 10 cm, bên trong có 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng đựng ma túy Heroine, kích thước mỗi gói 0,5 x 01 cm với giá 300.000 đồng. C cầm số ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải đi về mục đích để sử dụng. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi C đang đi bộ ra chỗ xe máy dựng thì bị lực lượng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương kết hợp với Công an xã Tân Quang, huyện Ninh Giang phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của C đang cầm 01 (một) gói giấy màu trắng kích thước (10 x 5) cm bên trong có chứa 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng, kích thước mỗi gói (0,5 x 01) cm, mở các gói giấy bạc bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, C tự khai nhận đó là ma túy Heroine vừa đi mua về, đang cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Trọng C, niêm phong vật chứng thu giữ của C theo quy định pháp luật. Đồng thời quản lý của C 01 (một) xe mô tô Wave, biển số: 29X1-675.72.

Tại Kết luận giám định số: 41/KLGĐ- PC09 ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong bì thư thu giữ của Bùi Trọng C gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 0,175 g (Không phẩy một trăm bẩy mươi lăm gam) là ma túy, loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-NG, ngày 04/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Bùi Trọng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa: Đại diện VKSND huyện Ninh Giang giữ quyền công tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Xử phạt bị cáo C từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2019. Hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,143gam (Không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) Heroinne hoàn lại sau giám định;Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo bị kết án phải chịu phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, VKSND huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Trọng C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/12/2019, tại khu vực ngã tư Bùi Hòa đường tỉnh lộ 396 thuộc địa phận thôn D, xã T, huyện N, tỉnh H, Bùi Trọng C đang có hành vi cất giấu trái phép 0,175 gam Heroine, mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Bùi Trọng C về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân không tốt, Bản án số 43/2011/HSST ngày 30/5/2011 của TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt Bùi Trọng C 24 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; đã thi hành 200.000 đồng tiền án phí HSST ngày 07/7/2011, ra trại ngày 29/4/2012 (đã được xóa án tích); Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ- XPVPHC ngày 24/7/2016 của Trưởng công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Trọng C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức cảnh cáo; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 222/QĐ- XPVPHC ngày 18/8/2016 của Trưởng công an huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Trọng C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền 500.000 đồng, chưa thi hành (Đã hết thời hiệu thi hành).

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Trọng C là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trọng C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Bùi Trọng C 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/12/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,143gam (Không phẩy một trăm bốn mươi ba gam) Heroine hoàn lại sau giám định (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ninh Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang ngày 16/3/2020).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Trọng C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Trọng C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/4/2020).

Cỡ chữ