- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH ---------=--------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày: 29-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phiếu .
2. Ông Lưu Danh Sử.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Trần Thanh Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 29/04/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2020/TLST-HS ngày 26/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 26/03/2020, Thông báo số 08/2020/TB-TA ngày 31/3/2020 và Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa số 26/2020/TB-TA ngày 23/4/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên Bùi Văn L, sinh năm 1993 (Tên gọi khác: Không). Nơi ở và ĐKNKTT thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Bùi Văn Đ và bà Bùi Thị X; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 15/01/2020, chuyển tạm giam ngày 17/01/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (Bị cáo có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn L: Ông Phạm Duy Hưng- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Ninh Bình (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Xuân C, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Bùi Văn P, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
+ Chị Bùi Thị T, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
- Chị Bùi Thị X, sinh năm 1963 (Có mặt)
- 1 -
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn L là người nghiện ma túy; Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 15/01/2020, Bùi Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát: 35M1-8527 từ nhà đi đến thôn Đ, xã Q, huyện N để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi thì L nhìn thấy một người nam giới (L không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở ven đường trông giống người nghiện ma túy, L điều khiển xe mô tô đi đến gần người nam giới và hỏi:“Anh có hàng trắng không bán cho em hai trăm – ý L muốn hỏi mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Người nam giới đồng ý và nói “Có”, Bùi Văn L lấy trong người số tiền 200.000 đồng ra đưa cho người nam giới, người này cầm tiền rồi đưa lại cho Bùi Văn L 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy có nhiều màu sắc có chữ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Bùi Văn L mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên gói lại và bỏ vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về đến khu vực giếng Chới thuộc thôn Đ, xã Q, huyện N tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy.
Hồi 12 giờ cùng ngày, Bùi Văn L xuống xe mô tô đi bộ vào trong khu vực giếng Chới đã gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tuần tra. Do sợ bị phát hiện nên Bùi Văn L đã tự lấy ra trong túi quần phía trước bên phải của mình 01 gói Heroine và giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy có nhiều màu sắc có chữ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, Bùi Văn L khai nhận đó là gói Heroine của mình vừa mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Bùi Văn L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 35M1-8527.
Tại bản kết luận giám định số 58/KLGĐ-PC09-MT ngày 17/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1360 (không phẩy một nghìn ba trăm sáu mươi) gam, là ma túy, loại Heroine.
Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0723 gam, là mua túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi số 58/KLGĐ-PC09-MT.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình nêu trên.
- 2 -
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSNQ-HS ngày 25/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Bùi Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/01/2020. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,0723 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi số 58/KLGĐ-PC09-MT.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong phong bì, vỏ gói ban đầu.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Về tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố là chính xác. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố cụ thể như sau: Bị cáo là người nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng cho bản thân, khoảng 11 giờ 45 phút ngày 15/01/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn
- 3 -
hiệu Honda Wave S biển kiểm soát 35M1-8527 từ nhà đi đến thôn Đ, xã Q, huyện N để tìm mua Heroine của một người nam giới không quen biết 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy có nhiều màu sắc có chữ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,1360 (không phẩy một nghìn ba trăm sáu mươi) gam với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo mở ra kiểm tra xác định đúng là Heroine nên bị cáo gói lại và bỏ vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về đến khu vực giếng Chới thuộc thôn Đ, xã Q, huyện N tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy. Hồi 12 giờ cùng ngày, bị cáo xuống xe mô tô đi bộ vào trong khu vực giếng Chới đã gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tuần tra. Do sợ bị phát hiện nên bị cáo đã tự lấy ra trong túi quần phía trước bên phải của mình 01 gói Heroine và giao nộp cho cơ quan Công an.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số 58/KLGĐ-PC09-MT ngày 17/01/2020 và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đã đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo tàng trữ 0,1360 (không phẩy một nghìn ba trăm sáu mươi) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy:
Hành vi tàng trữ 0,1360 (không phẩy một nghìn ba trăm sáu mươi) gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy, việc nghiện ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Xét bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị Nhà nước cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian
- 4 -
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung đồng thời giúp bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc Mường sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, có trình độ nhận thức hạn chế. Mặt khác, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đủ căn cứ bởi lẽ quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định sau khi mua được Heroine bị cáo điều khiển xe mô tô tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy đến khoảng 12 giờ cùng ngày, bị cáo xuống xe mô tô đi bộ vào trong khu vực giếng Chới để sử dụng ma túy thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tuần tra. Do biết không thể dấu diếm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo đã tự lấy ra trong túi quần phía trước bên phải của mình 01 gói Heroine và giao nộp cho cơ quan Công an.
Trong vụ án này, kết quả điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán Heroine cho Bùi Văn L nên không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy tàng trữ nhằm sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với tài sản liên quan là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển kiểm soát: 35M1-8527 thu giữ của Bùi Văn L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Phạm Xuân C sinh năm 1978 trú tại thôn Y, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình cho Bùi Văn L mượn sử dụng, anh C không biết việc L sử dụng xe mô tô của mình đi mua ma túy. Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh C là phù hợp.
- Đối với 0,0723 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi số 58/KLGĐ-PC09-MT thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 phong bì niêm phong phong bì, vỏ gói ban đầu không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc Mường sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, có đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày
- 5 -
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/01/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,0723 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, tất cả được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định của pháp luật, trên mặt phong bì có ghi số 58/KLGĐ-PC09-MT.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong phong bì, vỏ gói ban đầu.
(Chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - VKSND huyện NQ; - THADS huyện NQ; - CA huyện NQ; - Những người TGTT; - Lưu./. - 6 - | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ĐÀO THỊ HUỆ |