- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Trung N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Trung N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS-ST Ngày 10-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hồng Nhiếp.
Bà Phạm Kim Luyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2020/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Trung N, sinh năm 1988 tại Cà Mau; giới tính: Nam; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn NC, huyện NC, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Trương Trung N và con bà Huỳnh Thị H; anh, chị em ruột: 02 người; vợ: Vương Thị Mỹ N; con: 02 người; tiền án: Không; tiền sự: 01 (Ngày 15/9/2019 bị Chủ tịch ủy ban nhân dân thị trấn NC ra quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời gian 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 15/12/2019); bị tạm giữ ngày 09/6/2020 và đến ngày 15/6/2020 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 01 giờ 30 phút, ngày 09/6/2020, lực lượng Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an thị trấn NC phát hiện đối tượng Trương Trung N tại địa điểm trước cơ sở K thuộc khóm S, thị trấn NC, huyện NC, tỉnh Cà Mau có hiểu hiện nghi vấn sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy nên tiến hành mời N về trụ sở Công an thị trấn làm việc thì N có biểu hiện chống đối nên lực lượng đã khống chế đưa N về trụ sở Công an thị trấn NC. Tiến hành kiểm tra quần short jean màu xanh xám mà N đang mặt phát hiện trong túi quần nhỏ phía trước bên phải có 02 (hai) bịch nylon màu trắng có rãnh cài, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất mà N khai là ma túy đá nên lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Trung N, đồng thời thu giữ các tang vật gồm:
- 02 bịch ny long màu trắng có rãnh cài, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất được niêm phong.
- 01 cái quần short jean màu xanh xám đã qua sử dụng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu vàng đen BKS 69M1-199…, không kiểm tra tình trạng bên trong.
- 01 giấy chứng minh nhân dân tên Trương Trung N, số CMND 381756045.
- 01 điện thoại di động màu trắng đồng, sim vina có số thuê bao 0911313…; Sim viettel có số thuê bao 0972766….
- Tiền Việt Nam 200.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 75/GĐMT-PC09 ngày 11/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4455 gam, loại Methamphetamine.
Tại biên bản về việc thử nước tiểu lúc 08 giờ 15 phút ngày 09/6/2020 xác định Trương Trung N có sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSNC ngày 25/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ y quan điểm truy tố và đề N Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng được niêm phong và 01 quần short jean màu xanh xám đã qua sử dụng.
- Bị cáo xác định nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng, xin hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường, biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, đã chứng minh: Lúc 01 giờ 30 phút, ngày 09/6/2020, tại trước cơ sở K thuộc khóm S, thị trấn NC, huyện NC, tỉnh Cà Mau, N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng có tổng khối lượng 1,4455 loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang.
Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và toàn xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý đi vào con đường nghiện hút, tàng trữ và phạm tội. Nhân thân của bị cáo không tốt vì có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông bà ngoại và ông nội của bị cáo là gia đình có công với cách mạng (ông ngoại của bị cáo là liệt sỹ và bà ngoại của bị cáo là gia đình cách mạng gương mẫu được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng ba; ông nội của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì); gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính và đang nuôi 02 con nhỏ, thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên không cần thiết phạt hình phạt tiền đối với bị cáo là có cơ sở.
Về vật chứng: Số ma túy khi giám định được niêm phong trong phong bì thư là vật Nhà nước cấm lưu hành và 01 quần short jean màu xanh xám đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ. Các vật chứng khác đã giao trả cho bị cáo nên không đặt ra xem xét.
Đối với việc bị cáo khai mua ma túy của người phụ nữ nhưng không xác định được họ, tên và địa chỉ cụ thể ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa mời làm việc được nên tách ra tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau là có cơ sở.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Trung N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Trung N 01 (một) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 09/6/2020.
3. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo N.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì màu trắng được niêm phong kín bên ngoài có ghi chữ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sóc Trăng niêm phong vụ số 75/GĐMT-PC09, ngày 11/6/2020, có chữ ký và họ tên của giám định viên Phạm Thanh Trường Sơn, trợ lý giám định Phùng Thúy An, Đoàn đặc nhiệm PCMT ma túy số 4 Nguyễn Văn Chinh và 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng, cùng tên cơ quan chủ trì niêm phong Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, có chữ ký ghi họ tên của người bị bắt Trương Trung N, có chữ ký ghi họ tên của người chứng kiến Trần Ngọc Thái B và Nguyễn Tuyết T, có chữ ký ghi họ tên của cán bộ niêm phong Nguyễn Trần Mạnh, có chữ ký ghi họ tên của Phó công an Phạm Minh Thừa cùng 05 hình dấu tròn đỏ của Công an thị trấn Năm Căn.
- 01 quần short jean màu xanh xám đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2020 giữa Công an huyện Năm Căn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 N quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo N phải nộp 200.000 đồng.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Án xử công khai báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau (01 bản); - VKSND tỉnh Cà Mau (01 bản); - VKSND huyện Năm Căn (01 bản); - Công an huyện Năm Căn (02 bản); - Chi cục THADS huyện Năm Căn (01 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau (01 bản); - Người tham gia tố tụng (01 bản); - Hồ sơ vụ án (01 bản); - Lưu Văn phòng, hồ sơ THA (07 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Quốc Kiên |