vanban.org

Bản án 18/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HS-ST
Ngày: 29/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Nghiêm

Bà Ngô Thị Luân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 và Thông báo mở phiên tòa số 03/2020/TB-TA ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh năm 1976; tại: Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Cụm x, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Đ; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 101/2012/HSST ngày 25/4/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2019. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Chị Nghiêm Ngọc Mỹ L, sinh năm: 1972.

Nơi ĐKHKTT: Phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

Chỗ ở: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 04/12/2019, bị cáo Nguyễn Văn T có nhu cầu sử dụng ma tuý nên đón xe taxi từ nhà tại thôn L, xã P, huyện L đến thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà tìm gặp một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma tuý với giá 5.500.000 đồng. Sau khi mua bị cáo cất giấu gói ma tuý vào người rồi đón taxi quay về nhà. Khi về đến nhà, bị cáo lấy một ít ma tuý ra sử dụng, số còn lại chia nhỏ gói thành 58 gói giấy nhằm mục đích bán kiếm lời, còn một ít bị cáo gói vào trong một gói giấy khác, mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/12/2019, bị cáo mang theo số ma tuý trên được cất giấu trong người mục đích để bán số ma túy trên, bị cáo điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead màu xanh nâu BKS 85B1 – 461.70 chở chị Nghiêm Ngọc Mỹ L (Chị L và bị cáo chưa đăng ký kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng) đến ăn sáng tại quán “T” thuộc thôn P, xã P, huyện L thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon bên trong có chứa 58 gói giấy chứa chất cục bột màu trắng và 01 gói giấy chứa chất cục bột màu trắng được niêm phong; 01 ví da màu nâu; Số tiền 3.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia Model RM – 1172 màu xám đen; 01 điện thoại di động Masstel Model izi 206 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Huyndai màu hồng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn T; 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L; 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu xanh nâu biển kiểm soát 85B1 – 461.70; 01 bảo hiểm tự nguyện mang tên Nguyễn Thị L.

Tại bản kết luận giám định số 1821/GĐ-C09 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Mẫu cục bột đựng trong gói giấy là ma tuý, có khối lượng 0,3962g, loại hêrôin. Mẫu cục bột đựng trong 58 gói giấy có khối lượng 3,0982g, loại hêrôin.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 13/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Nguyễn Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 04 đến 05 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ghi số 1821/GĐ-C09 và 01 ví da màu nâu không còn giá trị sử dụng; Tuyên trả cho bị cáo 01 CMND mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Nokia Model RM- 1172 màu xám đen; 01 điện thoại di động Masstel model izi 206 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Huyndai màu vàng đồng và số tiền 3.500.000đồng tại tài khoản của chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 26/02/2020 tại Kho bạc nhà nước huyện Lâm Hà. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận: Vào buổi tối ngày 04/12/2019 bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đón xe taxi từ nhà của bị cáo đến thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà tìm gặp một người đàn ông tên L (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy với số tiền là 5.500.000đồng. Sau khi mua được ma túy về bị cáo lấy ra một ít sử dụng, số còn lại bị cáo chia nhỏ thành 58 gói giấy nhằm mục đích bán kiếm lời, còn lại một ít bị cáo gói vào một gói giấy khác để sử dụng cho bản thân. Đến sáng ngày 05/12/2019 bị cáo mang theo ma túy trong người nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị cáo bị lực lượng Công an huyện Lâm Hà kiểm tra bắt quả tang bị cáo cất giấu ma túy trong túi quần bên phải có khối lượng theo kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng là 0,3962 g. Đồng thời, kiểm tra gần nơi bị cáo ngồi thì phát hiện một gói nilon chứa 58 gói giấy đựng ma túy có khối lượng theo kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng là 3,0982g, bị cáo Tấn thừa nhận đây là số ma túy của bị cáo mà bị cáo đã chia nhỏ vào tối ngày 04/12/2019. Số ma túy Công an huyện Lâm Hà thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng theo kết luận của cơ quan chức năng là 3,4944g.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, bị cáo biết rõ Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, bởi lẽ ma túy là chất độc dược gây ra nhiều tác hại đối với con người và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây nhức nhối trong xã hội. Vì vậy, Nhà nước ta bằng mọi biện pháp tuyên truyền, giáo dục toàn dân phòng chống ma túy và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mà mua ma túy cất giữ để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện khác khi có nhu cầu nhằm mục đích kiếm lời.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2012 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi chấp hành án xong được tái hòa nhập cộng đồng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân để tu dưỡng trở thành người lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật và từ bỏ ma túy. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn tiếp tục mua ma túy về tàng trữ, sử dụng và bán lại nhằm mục đích kiếm lời chứng tỏ bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện cũng như răn đe phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông tên L là người bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Lead màu xanh nâu biển kiểm soát 85B1 – 461.70 tạm giữ trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo khai mua của đối tượng tên “H” ở thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị L là tang vật của một vụ trộm cắp tài sản tại thành phố P, tỉnh Ninh Thuận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà đã chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan và 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu xanh nâu biển kiểm soát 85B1 – 461.70, 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị L, 01 bảo hiểm tự nguyện mang tên Nguyễn Thị L cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P vào ngày 26/02/2020 để giải quyết theo quy định của pháp luật nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang chi cục thi hành án gồm 02 phong bì niêm phong ghi số 1821/GĐ-PC09; 01 CMND mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Nokia Model RM- 1172 màu xám đen; 01 điện thoại di động Masstel model izi 206 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Huyndai màu vàng đồng; 01 ví da màu nâu và số tiền 3.500.000đồng tại tài khoản của chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 26/02/2020 tại Kho bạc nhà nước huyện Lâm Hà. Đối với 02 phong bì niêm phong ghi số 1821/GĐ-PC09 đựng Hêrôin Nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy, đối với 01 CMND mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Nokia Model RM- 1172 màu xám đen; 01 điện thoại di động Masstel model izi 206 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Huyndai màu vàng đồng; 01 ví da màu nâu và số tiền 3.500.000đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ghi số 1821/GĐ-PC09.

+ Trả cho bị cáo 01 CMND mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động Nokia Model RM-1172 màu xám đen; 01 điện thoại di động Masstel model izi 206 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Huyndai màu vàng đồng; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.

(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 11/3/2020)

+ Trả cho bị cáo số tiền 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tại tài khoản của chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 26/02/2020 tại Kho bạc nhà nước huyện Lâm Hà.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/4/2020) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ