- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HS - ST Ngày 29/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Phú Quốc
Ông Hà Bửu Khánh
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Phượng là Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Thủ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2020/TLST - HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 5 năm 2020; đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1984; tại xã Ngọc T, huyện Gr, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp Ngọc V, xã Ngọc T, huyện GR, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Tiền sự: Chưa; Tiền án: Chưa; Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/2/2020, chuyển sang tạm giam ngày 18/2/2020 cho đến nay. Bị cáo bị tạm giam (có mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Quốc N; sinh năm: 1995; Trú tại: ấp Vinh B, xã Ngọc Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ, ngày 08/2/2020 Công an xã Hòa A đang tuần tra giao thông tuyến ấp Cây H, xã Hòa A, huyện G phát hiện Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô, biển số kiểm soát 68G1-549.94 không đội mũ bảo hiểm nên ra lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong cốp xe có có 01 bịch ma túy đá. Quá trình điều tra xác định: Bịch ma túy đá H mua của một người tên P ở thành phố Vị T, tỉnh H (Không biết rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể) mua với giá 300.000 đồng về để sử dụng. Khi mua ma túy xong H để trong vỏ bọc nilon, phía bên ngoài của gói thuốc Caraven và để vào trong cốp xe. Sau đó, H điều khiển xe về nhà thì bị kiểm tra và bắt quả tang. Tại bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 14/2/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Chất tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong một bịch nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2837 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Vật chứng trong vụ án thu giữ được:
- 01 vỏ gói thuốc nhãn hiệu Caraven
- 01 xe moto nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng, biển số kiểm soát 68G1 – 549.94, số khung RLCUE; 17105213060, số máy E3T6E-313806 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu thập được, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với Nguyễn Văn H. Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 27/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c kho¶n 01 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 cña Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau khi giám định. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên đề nghị miễn khấu trừ. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Riềng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Vào khoảng 21 giờ ngày 08/2/2020 Công an xã Hòa A đi tuần tra giao thông phát hiện Nguyễn Văn H không đội mũ bảo hiểm điều khiển xe máy nên ra lệnh dừng xe để kiểm tra và phát hiện trong cốp xe có 01 bịch nilon chứa ma túy đá loại Methamphetamine với trọng lượng là 0,2837 gam.
Qua lời trình bày trên của bị cáo cho thấy đã phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Căn cứ vào kết luận giám định số: 120/KL-KTHS ngày 14/2/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận; Chất tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong một bịch nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2837 gam.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự an toàn tại địa phương. Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ cho nên cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn thể bị phạt tiền hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo H do không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Ghi nhận việc cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho anh Nguyễn Văn N 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng, biển số kiểm soát 68G1 – 549.94, số khung RLCUE; 17105213060, số máy E3T6E-313806 đã qua sử dụng
Tịch thu tiêu hủy. Mẫu vật còn lại sau khi giám định được xác định là chất ma túy loại (Methamphetamine) có khối lượng 0,2677 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 01 Điều 249, điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điÓm a kho¶n 1 §iÒu 23 cña NghÞ quyÕt sè 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 quy ®Þnh vÒ møc thu, miÔn, gi¶m, thu, nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt được tính từ ngày 09/2/2020. 2. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H do không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 3. Xử lý vật chứng: Ghi nhận việc cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho anh Nguyễn Văn N 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng, biển số kiêm soát 68G1 – 549.94, số khung RLCUE; 17105213060, số máy E3T6E-313806 đã qua sử dụng Tịch thu tiêu hủy. Mẫu vật còn lại sau khi giám định được xác định là chất ma túy loại (Methamphetamine) có khối lượng 0,2677 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong. 4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày; bị cáo được tính kể từ ngày tuyên án (29/5/2020) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết của Tòa án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện ; - Trại tạm giam; - Cơ quan điều tra; - CQ Thi hành án dân sự huyện; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ Tọa phiên tòa Nguyễn Thị Chuyên |