vanban.org

Bản án 18/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: “Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiệncủa nguyên đơn”.

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn ông Nguyễn Quốc D. Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/10/2018 cho bà Phạm Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: “Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiệncủa nguyên đơn”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14/7/2020
V/v: “Tranh chấp ly hôn,
nuôi con”

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm:"

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Huỳnh Thị Vũ Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Đức Hơn.

2. Bà Vũ Thị Minh Huệ.

Thư ký phiên toà:ÔngVõ Chí Công – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã L,tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà:Bà Lê Thị Nữ – Kiểm sát viên.

Ngày 14tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:334/2019/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2020/QĐST-HNGĐ ngày26/6/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Thôn Thanh Linh, xã Tân Phước, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

(Bà H có mặt, ông D vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã L, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Quốc D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38, ngày 17/7/2018.Vợ chồng bà sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bà không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, không cùng quan điểm. Ngoài ra, ông D còn đam mê game bắn cá ăn tiền, nhiều lần về lấy tài sản của gia đình đem bán lấy tiền chơi game, bà khuyên can thì 02 bên cải vả.Vì thương con và mong muốn níu kéo hạnh phúc gia đình, bà đã tìm nhiều cách để hàn gắn nhưng không có kết quả nên đã dọn về nhà cha mẹ ruột sống. Hiện vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn khởi kiện để yêu cầu được ly hôn ông D.

Về con chung: Vợ chồng bà có 01 người con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/10/2018, giới tính nữ (hiện đang sống với bà H). Khi ly hôn, bà Hyêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa giải quyết.Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con bà H xin rút yêu cầu.

* Về phía bị đơn –Ông Nguyễn Quốc D: Quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D không đến Tòa làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa hôm nay ông D vẫn vắng mặt không lý do.

Qua xác minh: Vợ chồng bà H, ông D thường xuyên cải nhau.

*"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"phát"biểu"ý"kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng, riêng bị đơn ông D vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng luật định.

Về nội dung: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra qua phần tranh tụng tại phiên tòa đã đủ căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh Hlà có cơ sở. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H; Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/10/2018cho bà Htrực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ yêu cầu của bà H về cấp dưỡng nuôi con; Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, lời phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự: Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thanh Hlà tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông Nguyễn Quốc Dvắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông D là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:Bà Phạm Thị Thanh Hvà ông Nguyễn Quốc Dcó đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Tân Thiện, thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38, ngày 17/7/2018, vì vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà H kiên quyết yêu cầu ly hôn vìthực tế giữa bà và ông D đã tìm nhiều cách hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả.Vợ chồng bàhiện mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, ông D vắng mặt, không có lý do.Qua đó, cho thấy ông D bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà H ông D là trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung:Vợ chồng bà H, ông D có 01 người con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/10/2018, giới tính nữ (hiện đang sống với bà H), khi ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt của cháu N đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, việc học hành và tinh thần. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Hrút yêu cầu ông duy cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử đã giải thích cho bà Hhiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Tuy nhiên, bà Htrình bày rằng việc không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, bà Hcó đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử không buộc ông Dphải cấp dưỡng nuôi con mà đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:Bà Hphải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôntheo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Khoản 1 Điều 56,Điều 81,Điều 82 vàĐiều 83Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử: “Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiệncủa nguyên đơn”.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh H được ly hôn ông Nguyễn Quốc D.

2. Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày 18/10/2018 cho bà Phạm Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà H về cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí:

Bà Phạm Thị Thanh Hphải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn,nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0022528 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi,bà H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày14/7/2020). Riêng bị đơnđược quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"

Cỡ chữ