vanban.org

Bản án 18/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn G.

của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: [1] Về hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Nguyễn Văn G được ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị B và ông Nguyễn Văn G"
  • Tòa quyết gì? hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST
Ngày 27-3-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chính

2. Ông Trần Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án

nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2019/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B (Bảy, có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G (vắng mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã B, Thới Bình, Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2019 và trong quá trình giải quyết

vụ án nguyên đơn bà Trần Thị B (Bảy) trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông G tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết

hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 13/6/2002. Thời gian chung sống do ông G đam mê cờ bạc, phá tán tài sản gia đình nên vợ chồng thường xuyên cự cải, ông G nhiều lần xúc phạm, đánh đập bà từ đó bà và ông G đã ly thân 07 năm nay. Bà B xét thấy không thể tiếp tục chung sống với ông G được nữa nên bà yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Bà và ông G có bốn người con chung là Nguyễn Như A, sinh

năm 1988, Nguyễn Thị H, sinh năm 1992, Nguyễn Thị C, sinh năm 1994 và Nguyễn Thị N, sinh năm 1996, hiện các con đã trưởng thành có cuộc sống tự lập nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Văn G trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà Bảy về hôn nhân, về con chung; ông

có ý kiến bổ sung như sau: Thời gian chung sống ông và bà B có xảy ra mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, thời gian gần đây ông có đánh bà B 02 bạt tay, nếu bà B chịu chia đất cho ông thì ông chấp nhận ly hôn với bà B. Các con chung đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung đề nghị bà B phân chia đất cho ông, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc bà B yêu cầu ly hôn với ông G thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Ông G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm

lần thứ hai nhưng ông vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự này.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà B và ông G tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký

kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống do không tôn trọng nhau, dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng nên ông, bà đã ly thân từ 07 năm nay, ông G chấp nhận ly hôn với điều kiện bà B phải chia đất cho ông. Điều đó, cho thấy hôn nhân của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt. nên chấp nhận yêu cầu của bà B được ly hôn với ông G.

Về con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không

xem xét.

Tài sản chung: Ông G có yêu cầu bà B phân chia đất cho ông nhưng

không làm thủ tục yêu cầu phân chia tài sản theo quy định của pháp luật nên không xem xét. Nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà B phải chịu số tiền là 300.000

đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do bà B đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn G.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147

của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Về hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Nguyễn Văn G được ly hôn.

[2] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà B (Bảy) phải chịu 300.000

đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 13/12/2019 bà B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010806 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án, ông G được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ