- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Nhứt L.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 4 – 2020 V/v tranh chấp HNGĐ Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Mai Hương
2. Ông Phạm Phước Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Nhứt L, sinh năm 1969
Địa chỉ: Ấp Tân Mỹ B, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Nguyễn Kim T, sinh năm 1969
Địa chỉ: Số 16, tổ 23, ấp 3, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Nhứt L là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Ông L và bà T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, cấp ngày 17/02/2008. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Ông L và bà T không còn sống chung với nhau từ năm 2016 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Kim T.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Bị đơn là bà Nguyễn Kim T đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của ông L nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
- 01 Giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Nhứt L (Photo chứng thực);
- 01 Sổ hộ khẩu tên chủ hộ Nguyễn Nhứt L (Photo chứng thực);
- Giấy chứng nhận kết hôn (Bản sao);
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ông Nguyễn Nhứt L có đơn yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Kim T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn”.
Bà Nguyễn Kim T là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Kim T là bị đơn trong vụ kiện nhưng bà T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của ông L. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Kim T là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông L và bà T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 17/02/2008, do đó hôn nhân giữa ông L và bà T là hợp pháp.
Theo ông L trình bày thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng với nhau về quan điểm sống nên không còn sống chung cho đến nay. Ông L và bà T không có ý định hàn gắn tình cảm.
Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập bà Nguyễn Kim T tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng bà T vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến hay biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Nhứt L. Xét thấy hôn nhân giữa ông L và bà T lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông L yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa ông L và bà T là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông L.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, bà T không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Nhứt L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Nhứt L.
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Nhứt L được ly hôn với bà Nguyễn Kim T.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Ông Nguyễn Nhứt L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009571 ngày 05 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Như vậy tiền án phí ông L đã nộp xong.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Minh |