- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Sao - Lưu Xuân Quảng"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!BẢO!THẮNG! TỈNH!LÀO!CAI! ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2020/HNGĐ-ST Ngày 14 - 7 - 2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN!DANH!!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BẢO!THẮNG!
!
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lìn Thị Lài."
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Bà Trần Thị Thu Hương.
2. Bà trần Thị Huệ.
Thư"ký"phiên"toà: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/QĐST - HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1."Nguyên"đơn:"Chị"Vũ"Thị"S"-"Sinh"năm"1971." "
Địa"chỉ:"Thôn"Làng"Bạc,"xã"Xuân"Quang,"huyện"Bảo"Thắng,"tỉnh"Lào"Cai" -"có"mặt." "
2."Bị"đơn:"Anh"Lưu"Xuân"Quảng"-"Sinh"năm"1972." """""""""""""""""""""""""""
""""""""""Địa"chỉ:"Thôn"Làng"Bạc,"xã"Xuân"Quang,"huyện"Bảo"Thắng,"Lào"Cai"-" vắng"mặt."
"!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo đơn khởi kiện ngày 24/02/2020 và bản tự khai ngày 12/3/2020 cũng như tại phiên tòa, chị Vũ Thị S trình bầy: Chị và anh Lưu Xuân Quảng kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 24/01/1996, tại UBND xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến giữa năm 2016 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Quảng hay uống rượu về nhà gây sự cãi nhau với vợ con, đuổi chị ra khỏi nhà. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình khuyên bảo nhưng anh Quảng không thay đổi. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Xuân Quảng.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có hai con chung là cháu Lưu Hà Linh, sinh ngày 16/4/1997 và cháu Lưu Đức Mạnh, sinh ngày 23/7/2005, hiện nay cháu Linh đã trưởng thành trên 18 tuổi, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Mạnh khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng anh Quảng. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Mạnh, chị không yêu cầu anh Quảng cấp dưỡng tiền nuôi con chung
Về tài sản chung:!Quá trình chung sống vợ chồng chị có tạo dựng được một số tài sản chung, khi ly hôn để vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của anh Lưu Xuân Quảng (Bị đơn) ghi ngày 12/3/2020 và ngày 25/6/2020, anh Quảng trình bầy: Anh và chị Vũ Thị S kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 24/01/1996, tại UBND xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc, không xẩy ra mâu thuẫn gì, chị Sao cho rằng năm 2016 anh uống rượu và gây sự với vợ con là không đúng, chị Sao đã bỏ ra ngoài sống và làm đơn xin ly hôn, quan điểm của anh không nhất trí ly hôn, anh mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lưu Hà Linh, sinh ngày 16/4/1997 và cháu Lưu Đức Manh, sinh ngày 23/7/2005, hiện nay cháu Linh đã trưởng thành trên 18 tuổi, còn cháu Mạnh đang ở cùng anh, anh không nhất trí ly hôn nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con; tại bản tự khai ngày 25/6/2020, anh nhất trí theo nguyện vọng của con, các con ở với ai thì Tòa án giao cho người đó.
Về tài sản chung:!Quá trình chung sống vợ chồng chị có tạo dựng được một số tài sản chung, nhưng anh không nhất trí ly hôn nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản.
Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vì vắng mặt bị đơn.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị S khởi kiện xin ly hôn với anh Lưu Xuân Quảng đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, chị Vũ Thị S và anh Lưu Xuân Quảng đều có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Làng Bạc, xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị S và anh Lưu Xuân Quảng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Quảng hay uống rượu về nhà gây sự cãi nhau với vợ con, đuổi chị ra khỏi nhà. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được trưởng thôn Làng Bạc xác nhận là đúng sự thật. Tại phiên toà hôm nay, chị Vũ Thị S giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Lưu Xuân Quảng.
Đối với anh Lưu Xuân Quảng vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ghi ngày 12/3/2020 và ngày 25/6/2020, thì anh Quảng không nhất trí ly hôn với chị Sao; Tòa án đã tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Quảng nhưng anh Quảng đều vắng mặt, vì vậy cần xem xét giải quyết vắng mặt anh Quảng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy, việc chị Vũ Thị S xin ly hôn với anh Lưu Xuân Quảng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Vũ Thị S và anh Lưu Xuân Quảng có hai con chung là cháu cháu Lưu Hà Linh, sinh ngày 16/4/1997 và cháu Lưu Đức Manh, sinh ngày 23/7/2005, hiện nay cháu Linh đã trưởng thành trên 18 tuổi, còn cháu Mạnh đang ở cùng anh Quảng. Tại phiên tòa hôm nay chị Vũ Thị S giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lưu Đức Mạnh, chị không yêu cầu anh Quảng cấp dưỡng tiền nuôi con. Theo danh sách những người được hưởng lương năm 2020 của trường tiểu học số 2, xã Xuân Quang xác nhận chị Vũ Thị S hiện là giái viên có mức lương là 10.608.200đồng (BL23); mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi ý kiến của cháu Lưu Đức Mạnh thì cháu có nguyện vọng được chị Sao trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của chị Sao là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của cháu Mạnh, nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Mạnh cho chị Sao trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Sao không yêu cầu anh Quảng cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị Sao xác nhận quá trình chung sống vợ chồng chị có tạo dựng được một số tài sản chung, khi ly hôn để vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Chị sao xác nhận vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử cho chị Vũ Thị S được ly hôn với anh Lưu Xuân Quảng.
2. Về con chung: Xử giao cháu Lưu Đức Mạnh, sinh ngày 23/7/2005, cho chị Vũ Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lưu Xuân Quảng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, anh Lưu Xuân Quảng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009891 ngày 12/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Vũ Thị S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi"nhận:" "
"
"""""""""""""""""""" TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- TAND tỉnh Lào Cai;
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- VKSND huyện Bảo Thắng (2);
!
- THADS huyện Bảo Thắng (2);
!
- UBND xã Bình Xuyên, huyện Bình
! Giang, tỉnh Hải Dương;
- Đương sự (02);
!
- Lưu HS, TA, VP .
!
!
Lìn!Thị!Lài