vanban.org

Bản án 18/2020/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị M về yêu cầu không công nhận giao dịch chuyển nhượng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất đối với bà Lê Thị N , ông Lê Đức C. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ b n đồ số 4 tại tổ dân phố số 6 p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Bản án số 18 về yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 130 Bộ luật Dân sự; Điều 137 Bộ luật Dân sự; Điều 146 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n n số: 18/2020/DS-ST
Ngày 30-9-2020
V/v: Yêu cầu không công nhận giao dịch
chuyển nhượng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất
và tài s n gắn liền với đất

NHÂN DANH

N Ớ ỘNG HÒA XÃ HỘI HỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Đức Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Thanh Du

Ông Nguyễn Văn Phương.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Toà n nhân dân quận H i An, thành phố H i Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu - Kiểm s t viên.

Ngày 30 th ng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa n nhân dân quận H i An xét xử sơ thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý số: 69/2018/TLST-DS ngày 27 th ng 9 năm 2018 về " Yêu cầu không công nhận giao dịch chuyển nhượng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất" theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-DS ngày 15/8/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2020/QĐST-DS ngày 15 th ng 9 năm 2020 giữa c c đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị M; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ N, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Có mặt.

Người đại diện hợp ph p: Anh Nguyễn Hùng Cường, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố H i Phòng, Luật sư - Đoàn luật sư thành phố H i Phòng là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 24/8/2018. Có mặt.

2. Bị đơn:

- Bà Lê Thị N ; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ X, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng (đã chết năm 2019).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn: Ông Đàm Văn H; chị Đàm Thị N; anh Đàm Văn T; anh Đàm Văn T; chị Đàm Thị N; địa chỉ: Tổ 6, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Đều vắng mặt.

- Ông Lê Đức C; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ X, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đàm Văn H; chị Đàm Thị N; anh Đàm Văn T; anh Đàm Văn T; chị Vũ Thị Kim D; cùng nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ X, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Đều vắng mặt.

- Bà Đinh Thị H; chị Lê Thị H; anh Lê Đức C; cùng nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ X, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Đều vắng mặt.

- Bà Đinh Thị H; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số N Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận H i An, thành phố H i Phòng. Vắng mặt.

Người đại diện hợp ph p: Ông Lương Xuân Lưu; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số 796 Ngô Gia Tự, phường Thành Tô, quận H i An, thành phố H i Phòng là người đại diện theo ủy quyền theo Văn b n ngày 28/9/2018. Có mặt.

- Ủy ban nhân dân phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng;

Người đại diện hợp ph p: Ông Bùi Văn Vững - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, là người đại diện theo ph p luật. Vắng mặt.

- Bà Định Thị V; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố số 6, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Vắng mặt.

- Bà Đinh Thị V (đã chết năm 2019); nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số 12, ngõ 311, tổ dân phố số 3, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng;

Người thừa kế quyền lợi và nghĩa vụ tố tụng: Ông Lê Thế C là chồng và c c con của bà V là ông Lê Thế T, ông Lê Thế T, bà Lê Thị H, ông Lê Thế N, bà Lê Thị M, bà Lê Thị V, bà Lê Thị V, bà Lê Thị V, bà Lê Thị T, địa chỉ: Tổ dân phố số 3, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 8 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lương Thị M và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Anh Nguyễn Hùng Cường trình bày:

Cụ Đinh Văn Gồ (chết năm 1945) và cụ bà Đào Thị Vớt (chết năm 1946) là bố mẹ chồng của bà. Hai cụ có ba người con: Bà Đinh Thị Vợt, bà Đinh Thị Vươn và chồng bà là ông Đinh Văn Lượng (tức Lựng). Năm 1955 bà Lương Thị M kết hôn với ông Đinh Văn Lượng. Khi đó bố mẹ ông Lượng đều đã chết, c c chị g i của ông Lượng là bà Vợt, bà Vươn đều đã đi lấy chồng và sinh sống tại nhà chồng. Chỉ có hai vợ chồng bà làm ăn sinh sống tại nhà và đất của cụ Gồ, cụ Vớt để lại có diện tích 2.024m2 tại khu 5 xã Đằng H i, huyện An H i (nay là tổ dân phố số 6, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng). Vợ chồng ông bà có 01 người con g i là Đinh Thị Hiền (sinh năm 1964). Một thời gian sau, ông Lượng đi bộ đội, đến năm 1973 thì hy sinh. Bà và chị Hiền vẫn ở lại trên diện tích đất của nhà chồng. Bà Vươn, bà Vợt không có ý kiến gì về việc này. Năm 1976, bà đã kê khai và đứng tên trong sổ mục kê của xã Đằng H i toàn bộ diện tích đất cùng tài s n trên đất (bao gồm: 03 gian nhà thờ, 04 gian nhà ở và nhiều cây ăn qu ...). Sau khi ông Lượng hy sinh, bà có đi tìm hài cốt của ông Lượng nhưng không thấy. Năm 1978, bà đi lấy chồng và về sinh sống tại nhà chồng ở khu 1 Lũng Đông, xã Đằng H i, huyện An H i, (nay phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng), chị Đinh Thị Hiền qu n lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất. Sau đó, bà đi làm ăn xa một thời gian, đến khi bà trở về thì thấy gia đình bà Lê Thị N và gia đình ông Lê Đức C đang sinh sống trên diện tích đất của bà. Bà hỏi thì được bà Nhãn tr lời là đã mua đất của con g i bà là chị Đinh Thị H, còn ông Chờn nói là không mua b n với ai, đất đó là do gia đình ông được Hợp t c xã Đằng H i cấp đổi.

Do đó, năm 2013 bà đã có đơn khởi kiện đến Tòa n và qua 03 cấp xét xử, Tòa n nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã hủy toàn bộ B n n dân sự phúc thẩm số 46/2015/DS-PT ngày 07/9/2015 của Tòa n nhân dân thành phố H i Phòng và B n n dân sự sơ thẩm số 01/2015/DS-ST ngày 26/01/2015 của Tòa n nhân dân quận H i An, thành phố H i Phòng giao hồ sơ vụ n cho Tòa n nhân dân quận H i An, thành phố H i Phòng xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đ m b o đúng quy định của ph p luật. Vì vậy, tại phiên tòa bà Mận thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện như sau:

- Đề nghị Tòa n không công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Đinh Thị H (là con g i bà M) và bà Lê Thị N .

- Bà Mận có ý kiến do lỗi của chị Đinh Thị Hiền (là con g i bà) nên bà có quan điểm có tr ch nhiệm đối với phần lỗi của chị Hiền và yêu cầu nhận một phần diện tích là 700m2 từ ông Đàm Văn H, chị Đàm Thị N, anh Đàm Văn T ,chị Đàm Thị N, anh Đàm Văn T, chị Vũ Thị Kim D, phần diện tích còn lại để gia đình ông H sử dụng. Ông C và gia đình sử dụng đất của hợp t c xã giao không có ý kiến của bà M là không hợp ph p, chị H cũng có phần lỗi tự ý đổi, chuyển nhượng đất của bà, nhưng bà tự nhận có tr ch nhiệm đối với phần lỗi của chị H. Vì vậy, bà M yêu cầu ông C và gia đình ph i chuyển tr cho bà phần diện tích là 200m2, phần diện tích còn lại kho ng 360m2 đã xây dựng c c công trình trên đất bà M để ông C và gia đình sử dụng.

- Rút yêu cầu buộc gia đình bà Nhãn ph i tr bà gi trị của c c cây cối trên đất bao gồm: 06 cây khế, 50 cây chuối, 100m dài cây tre và 02 cây ổi.

Trong qu trình Tòa n thụ lý vụ n, tiến hành tổ chức phiên tiếp cận chứng cứ, hòa gi i bị đơn là bà Lê Thị N (chết năm 2019), người kế thừa quyền lợi nghĩa vụ của bà Nhãn là ông Đàm Văn Hiếu, chị Đàm Thị Nhã, anh Đàm Văn Thành, anh Đàm Văn Tùng, chị Vũ Thị Kim Dung đều vắng mặt không có lý do. Mặc dù Tòa n đã triệu tập, niêm yết theo quy định của ph p luật và đến thời điểm phiên tòa mở lại c c đương sự cũng không có quan điểm khai nhận về nội dung khởi kiện của bà Lương Thị M, tiếp tục vắng mặt không lý do.

Tuy nhiên, biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2020 người kế thừa quyền lợi nghĩa vụ tố tụng của bà Nhãn và đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đàm Văn Hiếu là chồng bà Nhãn trình bày:

Năm 1978, do chị H cần tiền ăn học nên đã b n cho vợ chồng ông bà 1/2 diện tích đất vườn tại khu 5 xã Đằng H i, huyện An H i (nay là tổ dân phố số 6, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng). Bà Mận và chị Hiền đều là những người có quan hệ họ hàng với vợ chồng ông bà. Khi mua b n đất, ông bà đã đi hỏi ý kiến của vợ chồng bà Vươn, vợ chồng bà Vợt và một vài người trong họ hàng nhà chị Hiền về việc này, họ đều nhất trí để chị Hiền b n 1/2 diện tích đất vườn cho bà Nhãn với lý do bà Mận đã đi lấy chồng mới nên không có liên quan gì đến m nh đất của nhà chồng cũ nữa. Việc mua b n đất giữa bà Nhãn và chị Hiền được lập thành văn b n do chính tay chị Hiền viết có sự x c nhận của ông Kh ng (lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đằng H i, huyện An H i, thành phố H i Phòng) nhưng không đóng dấu (hiện ông Kh ng đã chết). Trong giấy b n vườn đất lúc đầu chị Hiền ghi là một nửa 5 sào, nhưng khi đo đất mọi người thấy m nh đất đó nếu tính c bờ tre, rãnh nước ph i rộng kho ng 06 sào nên bà Nhãn đã b o chị Hiền sửa lại cho phù hợp, nét sửa đó là của chị Hiền. Bà và chị Hiền thống nhất b n cho nhau một nửa m nh vườn nên thực tế bà cũng không rõ m nh vườn đó có diện tích chính x c là bao nhiêu. Sau khi mua đất của chị Hiền được một thời gian, ông Kh ng đã cho c n bộ xuống kiểm tra đo lại đất, x c định diện tích đất bà Nhãn mua của chị Hiền là 1.088m2 để tính thuế cho gia đình bà kể từ năm 1978.

Khi bà Nhãn mua diện tích đất này của chị Hiền, trên đất có một gian nhà gỗ, sân gạch và một số cây cối như: khế, chuối, bờ tre quanh vườn. Sau đó, b c của chị Hiền đã dỡ gian nhà gỗ này về làm nhà thờ và lột sân gạch để lấy gạch. Còn c c cây cối trên, trong qu trình sử dụng, gia đình bà Nhãn đã ph bỏ hết để lấy đất trồng hoa màu nên hiện giờ không còn.

Tại thời điểm bà Nhãn mua đất của chị Hiền, bà Mận đang sinh sống ở nhà chồng (tại xóm 5 thôn Lũng Đông, xã Đằng H i, huyện An H i), bà Mận biết rõ việc này, vẫn qua lại và không có ý kiến thắc mắc gì. Năm 2007, bà Nhãn đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất, do c n bộ Ủy ban phường yêu cầu ph i có chữ ký của bà Mận trong giấy chuyển nhượng đất năm 1978. Do đo, bà Nhãn đã đi gặp bà Mận để xin chữ ký, nhưng bà Mận không ký nên đã ph t sinh tranh chấp. Đến năm 2012, bà Mận khởi kiện bà Nhãn ra Tòa n nhân dân quận H i An để đòi lại diện tích đất và c c cây cối trên đất mà chị Đinh Thị Hiền đã b n cho gia đình bà.

Quan điểm của gia đình ông như sau: Việc mua b n đất giữa bà Lê Thị N với chị Đinh Thị Hiền là hoàn toàn ngay thẳng, có nhiều người trong họ hàng biết và chứng kiến như bà Vươn, bà Vợt và b n thân bà Mận lúc đó vẫn ở cùng thôn cũng biết rõ việc này. Mặt kh c, ngay sau khi mua đất, gia đình bà Nhãn đã chặt ph c c cây cối trên đất để canh t c và xây dựng nhà ăn ở sinh hoạt trong một thời gian dài (gần 30 năm) mà không hề thấy ai có ý kiến ph n đối gì. Nay bà Mận khởi kiện bà Nhãn để đòi lại đất và c c cây cối trên đất là không có căn cứ, vì đất đó là của gia đình ông Lượng, bà Mận đã đi lấy chồng mới nên không có quyền đòi.

Đối với bị đơn là ông Lê Đức Chờn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đinh Thị Hòa, chị Lê Thị Hiền và anh Lê Đức Chiến cũng trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành tổ chức phiên tiếp cận chứng cứ, hòa giải đều vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã triệu tập, niêm yết theo quy định của pháp luật và đến thời điểm phiên tòa mở lại các đương sự cũng không có quan điểm khai nhận về nội dung khởi kiện của bà Lương Thị M, tiếp tục vắng mặt không lý do.

Tuy nhiên, cũng tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án trước đó, bị đơn là ông Lê Đức Chờn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đinh Thị Hòa, chị Lê Thị Hiền và anh Lê Đức Chiến có quan điểm trình bày:

Toàn bộ diện tích đất kho ng 540m2 mà ông Chờn và gia đình đang qu n lý sử dụng tại tổ dân phố số 6 phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng là do gia đình ông Chờn được Hợp t c xã Đằng H i cấp đổi đối với diện tích 01 sào 06 đất hoa màu mà gia đình ông đã mua của ông Đinh Công Thích từ năm 1990. Việc cấp đổi đó được thể hiện bằng biên lai thu lệ phí địa chính ngày 09/02/1991. Sau khi được cấp đổi, gia đình ông đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định suốt từ thời gian đó không thấy ai có ý kiến tranh chấp gì. Nay bà Lương Thị M nhận đất đó là của bà Mận và khởi kiện ra Tòa đòi lại toàn bộ diện tích đất mà ông Chờn và gia đình đang sử dụng, quan điểm của ông Chờn, bà Hòa, chị Hiền và anh Chiến không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mận. Vì việc sử dụng diện tích đất đó của gia đình ông là hoàn toàn hợp ph p, giữa gia đình ông với bà Lương Thị M và chị Đinh Thị Hiền không hề có việc ở nhờ, mượn, thuê, lấn, chiếm, chuyển nhượng đất...

Trong các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đinh Thị Hiền và người đại diện theo ủy quyền của chị Hiền - Anh Lương Xuân Lưu trình bày:

Chị Hiền là con đẻ của ông Đinh Văn Lượng và bà Lương Thị M. Bố mẹ chị kết hôn và sinh sống với nhau tại nhà, đất của ông bà nội chị (là cụ Đinh Văn Gồ và cụ Đào Thị Vớt). Khi đó cụ Gồ và cụ Vớt đã chết, còn c c cô ruột của chị là bà Đinh Thị Vợt, bà Đinh Thị Vươn đều đã đi lấy chồng và về sinh sống tại nhà chồng. Năm 1964, bố chị đi bộ đội, chị và mẹ là bà Mận vẫn sống trên m nh đất này. Đến năm 1975, gia đình chị nhận được tin b o tử của ông Lượng. Vài năm sau, mẹ chị (bà Mận) đi lấy chồng là người cùng làng và về bên đó ở. Vì vậy, m nh đất này chỉ có một mình chị qu n lý sử dụng. Đến năm 1978, lúc đó bà Mận đi vào Nam tìm hài cốt của ông Lượng, do đời sống khó khăn vì không có nơi nương tựa nên chị đã b n cho bà Lê Thị N 900m2 đất nằm trong diện tích 2.024m2 đất của cụ Gồ và cụ Vớt với số tiền 1.200 đồng. Trên diện tích đất đó có nhiều cây như mít, khế, ổi, tre. Việc mua b n đất giữa chị và bà Nhãn có lập thành văn b n, nhưng không có x c nhận của chính quyền địa phương. Số tiền b n đất bà sử dụng chi tiêu cho c nhân. Mọi người trong họ không ai hỏi chị về việc b n đất cho bà Nhãn, vì nghĩ rằng đất đó là của chị nên chị có quyền b n. Mẹ chị bà Mận không biết việc này.

Phần diện tích đất còn lại, chị tiếp tục qu n lý. Đến năm 1986, chị chuyển nhượng tiếp cho anh Hà Văn Gi ng (là con đẻ của bà Đinh Thị Vợt) diện tích 360m2 đất. Việc chuyển nhượng chỉ thỏa thuận miệng, chị không nhớ số tiền chuyển nhượng là bao nhiêu. Cùng năm đó, chị có đổi cho xã Đằng H i 360m2 đất nằm trong phần diện tích đất còn lại để lấy đất mặt đường Cống Trắng và làm thủ tục đứng tên chủ sử dụng anh Lương Xuân Lưu là chồng của chị (diện tích đất được đổi này vợ chồng chị đã chuyển nhượng cho người kh c). Phần diện tích đất còn lại sau khi đã b n và đổi đất kho ng 292m2, chị đã giao lại cho tập thể. Sau đó, tập thể giao lại cho xã viên canh t c.

Đến nay chị nhận thấy toàn bộ nhà đất và c c cây cối trên đất của cụ Đinh Văn Gồ và cụ Đào Thị Vớt để lại là thuộc quyền sở hữu sử dụng hợp ph p của bà Lương Thị M. Việc bà tự ý b n 1/2 vườn đất đó cho bà Lê Thị N mà chưa được sự đồng ý của bà Mận là sai. Vì vậy, chị đề nghị Tòa n xem xét chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị M, không công nhận việc mua b n đất giữa chị với bà Lê Thị N , buộc bà Lê Thị N và gia đình ph i tr lại cho bà Lương Thị M toàn bộ phần diện tích đất và c c cây cối trên đất đã mua của bà từ năm 1978. Chị sẽ có tr ch nhiệm bồi thường cho gia đình bà Nhãn theo quy định của ph p luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Mận đòi đất của ông Lê Đức Chờn: Chị không biết lý do vì sao ông Chờn và gia đình lại được quyền sử dụng diện tích đất này nên không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của chị Đinh Thị Hiền (anh Lương Xuân Lưu) chỉ thừa nhận đã b n vườn đất cho bà Lê Thị N với diện tích là một nửa năm sào, trong giấy b n đất ghi là "một nửa s u sào" là có sự sửa chữa, ai là người sửa thì anh Lưu không biết. Nhưng anh Lưu khẳng định chữ viết trong giấy b n vườn đất đó đúng là chữ viết của chị Định Thị Hiền. Đồng thời anh Lương Xuân Lưu nhận thấy việc bà Hiền b n đất của bà Mận cho bà Nhãn khi chưa được sự đồng ý của bà Mận là tr i với quy định của ph p luật và anh Lưu không thừa nhận việc chị Hiền đã đổi đất cho Hợp t c xã Đằng H i và b n đất cho anh Hà Văn Gi ng như c c lời khai của chị Hiền trước đó tại Tòa n.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Đinh Thị Vợt vắng mặt, nhưng tại các lời khai bà có quan điểm trình bày:

Thống nhất với phần trình bày của bà Mận về nguồn gốc đất đang tranh chấp. Tại lời khai ngày 09/5/2013, bà x c định đất có nguồn gốc của cha mẹ là cụ Đinh Văn Gồ và cụ Đào Thị Vớt. Khi ông Lượng kết hôn với bà Mận vào năm 1955 thì c c bà đều đã đi lấy chồng và ở nhà chồng, đất do vợ chồng ông Lượng, bà Mận qu n lý. Sau khi ông Lượng hy sinh thì mẹ con bà Mận tiếp tục qu n lý, sử dụng để thờ cúng cha mẹ và ông Lượng. C c bà không tranh chấp với bà Mận, tài s n bố mẹ để lại giao toàn quyền cho bà Mận sử dụng và bà Mận đã đứng tên chủ sử dụng đất trong hồ sơ địa chính của xã Đằng H i.

Năm 1978, bà Mận đi lấy chồng mới là ông Nguyễn Văn Boọc ở xóm 1 thôn Lũng Đông (nay là tổ dân phố số 1 phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng). Đồng thời trong năm đó, chị Hiền đã b n một nửa m nh vườn 05 sào = 900m2 đất đó cho bà Lê Thị N . Bà không biết việc mua b n này, cho đến khi bà Nhãn xây dựng nhà bà mới biết (bà không nhớ bà Nhãn xây nhà năm nào). Khi đó bà đã đi hỏi em g i là Đinh Thị Vươn, thì bà Vươn cho biết lý do chị Hiền b n đất cho bà Nhãn là để lấy tiền ăn học. Lúc b n đất, chị Hiền có hỏi ý kiến của bà Vươn, bà Vươn đã đồng ý nên sau đó bà Vợt cũng không có ý kiến ph n đối gì. Vì vậy, gia đình bà Nhãn đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định đến năm 2007, khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữa bà Mận và chị Hiền với gia đình bà N và gia đình ông C mới bắt đầu ph t sinh tranh chấp.

Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã b n cho bà Nhãn, chị Hiền tiếp tục qu n lý và cho b c dâu của chị H là bà Lương Thị B y canh t c (hiện bà B y còn sống, trú tại tổ dân phố số 6 phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng), nhưng bị tai biến nên nằm một chỗ, không biết gì). Đến kho ng trước năm 1986, chị Hiền đã cắt một sào đất (360m2) để đổi cho Hợp t c xã Đằng H i lấy đất mặt đường Cống Trắng. Sau đó, chị Hiền tiếp tục b n cho ông Phạm Quang Le là Bí thư Đ ng ủy của xã Đằng H i thời bấy giờ một sào đất (360m2) với gi 03 chỉ vàng (hiện ông Le đã chết). Bà thấy vậy nên đã đề nghị ông Le cho bà chuộc lại để cho con trai bà là Hà Văn Gi ng mua, vì lúc đó nhà bà đông người lại chật chội nên thiếu chỗ ở. Sau đó, ông Le đã tr lại đất cho chị Hiền và lấy lại vàng. Đến ngày 03/8/1986, chị Hiền đã b n cho anh Hà Văn Gi ng 360m2 đất với gi 20.000 đồng tiền mới (vì lúc đó Nhà nước vừa mới đổi tiền). Khi mua b n hai bên có viết giấy tay cho nhau, nhưng không có x c nhận của chính quyền địa phương (giấy viết tay này hiện anh Gi ng vẫn còn giữ). Sau đó, anh Gi ng cũng đã đổi toàn bộ diện tích đất đã mua của chị Hiền cho Hợp t c xã Đằng H i để lấy đất mặt đường Cống Trắng. Đối với phần diện tích đất còn lại kho ng hơn 200m2, chị Hiền đã giao lại cho Hợp t c xã Đằng H i để hợp t c xã giao cho xã viên canh t c. Mọi việc chị Hiền tự ý làm, bà không biết và cũng không có ý kiên gì, bà cũng không biết chính x c diện tích đất bố mẹ bà để lại là bao nhiêu, chỉ thấy nói là kho ng 05 sào.

Bà không tranh chấp diện tích đất này với bà Mận, bà Mận toàn quyền sử dụng nếu yêu cầu của bà Mận được Tòa n chấp nhận. Tại đơn đề nghị ngày 16/9/2004, bà Vợt đều x c định không tranh chấp 2024m2 đất do cha mẹ để lại, giao toàn quyền cho bà Mận qu n lý, sử dụng và đề nghị Tòa n gi i quyết tr lại diện tích đất này cho bà Mận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Đinh Thị Vươn (đã chết); người kế thừa quyền lợi nghĩa vụ của bà Vươn đều vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã triệu tập, niêm yết theo quy định của pháp luật và đến thời điểm phiên tòa mở lại các đương sự cũng không có quan điểm khai nhận về nội dung khởi kiện của bà Lương Thị M, nhưng tại các lời khai trước đó bà có quan điểm trình bày:

Thống nhất với phần trình bày của bà Mận về nguồn gốc đất đang tranh chấp. Tại lời khai ngày 09/5/2013, bà x c định đất có nguồn gốc của cha mẹ là cụ Đinh Văn Gồ và cụ Đào Thị Vớt. Khi ông Lượng kết hôn với bà Mận vào năm 1955 thì c c bà đều đã đi lấy chồng và ở nhà chồng, đất do vợ chồng ông Lượng, bà Mận qu n lý. Sau khi ông Lượng hy sinh thì mẹ con bà Mận tiếp tục qu n lý, sử dụng để thờ cúng cha mẹ và ông Lượng. C c bà không tranh chấp với bà Mận, tài s n bố mẹ để lại giao toàn quyền cho bà Mận sử dụng và bà Mận đã đứng tên chủ sử dụng đất trong hồ sơ địa chính của xã Đằng H i.

Bà không tranh chấp diện tích đất này với bà Mận, bà Mận toàn quyền sử dụng nếu yêu cầu của bà Mận được Tòa n chấp nhận. Tại đơn đề nghị ngày 16/9/2004, bà Vươn x c định không tranh chấp 2024m2 đất do cha mẹ để lại, giao toàn quyền cho bà Mận qu n lý, sử dụng và đề nghị Tòa n gi i quyết tr lại diện tích đất này cho bà Mận.

Ủy ban nhân dân phường Đằng Hải, quận Hải An trình bày:

C c giấy tờ liên quan đến việc đổi đất của ông Lê Đức Chờn hiện không còn lưu giữ tại Ủy ban nhân dân phường, Hợp t c xã Đằng H i đã bị gi i thể. Nhưng việc cấp đổi đó đã được Ủy ban nhân dân xã chỉnh lý trên b n đồ và sổ mục kê năm 1995 tại thửa số 75, tờ b n đồ 04, diện tích 540m2 đất thổ cư. Từ khi được đổi đất, ông Chờn sử dụng ổn định không thấy có sự tranh chấp. Gia đình bà Nhãn và ông Chờn đã sử dụng ổn định không có tranh chấp.

Tại phiên tòa, Kiểm s t viên ph t biểu ý kiến về việc tuân theo ph p luật tố tụng trong qu trình gi i quyết vụ n của Thẩm ph n, Hội đồng xét xử; việc chấp hành ph p luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ n cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị n như sau:

Thẩm ph n đều tuân thủ đúng c c quy định của ph p luật về việc x c định thẩm quyền, quan hệ ph p luật ph t sinh tranh chấp, tư c ch ph p lý của người tham gia tố tụng; thực hiện đúng việc thu thập chứng cứ, thủ tục cấp tống đạt c c văn b n tố tụng. Tuy nhiên, Thẩm ph n chưa thực hiện đúng c c quy định của ph p luật về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng c c quy định của ph p luật về nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, c c trình tự thủ tục tại phiên tòa.

Đối với người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Hiền chấp hành đúng c c quy định của ph p luật tố tụng dân sự; bị đơn ông Lê Đức Chờn, người kế thừa quyền lợi nghĩa vụ tố tụng của bị đơn - bà Lê Thị N và đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đàm Văn Hiếu, chị Đàm Thị Nhã, anh Đàm Văn Thành, anh Đàm Văn Tùng, chị Vũ Thị Kim Dung, bà Đinh Thị Hòa, chị Lê Thị Hiền và anh Lê Đức Chiến, bà Định Thị Vợt, bà Đinh Thị Vươn không chấp hành đúng theo quy định của ph p luật Tố tụng dân sự, đồng thời ph t biểu quan điểm về nội dung gi i quyết vụ n theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH ỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại c c giai đoạn tố tụng kể từ khi thụ lý vụ n, bị đơn là bà Lê Thị N , ông Lê Đức Chờn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đàm Văn Hiếu, chị Đàm Thị Nhã, anh Đàm Văn Thành, anh Đàm Văn Tùng, chị Vũ Thị Kim Dung; bà Đinh Thị Hòa, chị Lê Thị Hiền và anh Lê Đức Chiến; bà Đinh Thị Vợt, bà Đinh Thị Vươn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị N và bà Đinh Thị Vươn đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa n tống đạt, niêm yết triệu tập hợp lệ theo quy định của ph p luật; đại diện UBND phường Đằng H i có đơn đề nghị xin vắng mặt tại Tòa n; chị Đinh Thị Hiền vắng mặt có văn b n ủy quyền cho anh Lương Xuân Lưu. Trên cơ sở quan điểm của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm s t viên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt là có đủ cơ sở.

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền gi i quyết vụ n:

[1] Đây là vụ n dân sự yêu cầu không công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, kiện đòi tài s n quyền sử dụng đất và c c tài s n gắn liền với đất giữa nguyên đơn là bà Lương Thị M; bị đơn là bà Lê Thị N (đã chết), ông Lê Đức Chờn hiện đang cư trú tại địa chỉ đã nêu ở trên được quy định tại kho n 2, 3 Điều 26 BLTTDS năm 2015 và thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa n nhân dân quận H i An, thành phố H i Phòng theo quy định điểm a kho n 1 Điều 35; điểm a kho n 1 Điều 39 BLTTDS.

- Về nội dung yêu cầu của đương sự:

[2] Nguồn gốc diện tích đất 2.024m2 đang tranh chấp tại khu 5 xã Đằng H i, huyện An H i (nay là tổ dân phố số 6, phường Đằng H i, quận H i An, thành phố H i Phòng) là của vợ chồng cụ Đinh Văn Gồ (chết năm 1945) và cụ Đào Thị Vớt (chết năm 1946). Theo biên b n x c minh ngày 02/5/2013 của Tòa n nhân dân quận H i An thì diện tích 2.024m2 đất nêu trên thể hiện ghi trong sổ mục kê năm 1976 do bà Mận kê khai và đứng tên chủ sử dụng; theo sổ mục kê kiêm thống kê năm 1985 thể hiện bà Đinh Thị Nhãn sử dụng 1.012m2, chị Đinh Thị Hiền (là con của bà Mận, ông Lượng) sử dụng 1.012m2; theo sổ mục kê năm 1995 thể hiện bà Lê Thị N sử dụng 1600m2 đất và gia đình ông Lê Đức Chờn sử dụng 540m2 (thực tế đo 561,13m2). Toàn bộ diện tích đất này cho đến nay chưa ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3] Cụ Gồ, cụ Vớt có 03 người con chung là bà Đinh Thị Vợt, bà Đinh Thị Vươn và ông Đinh Văn Lượng (tức Lựng, hy sinh năm 1973 trong kh ng chiến chống Mỹ, là chồng trước của bà Lương Thị M). Từ trước năm 1955, bà Vợt, bà Vươn lấy chồng và không ở trên diện tích đất của cụ Gồ, cụ Vớt. Năm 1955, ông Lượng kết hôn vơi bà Mận và vợ chồng qu n lý sử dụng nhà đất của cụ Gồ, cụ Vớt. Sau khi ông Lượng hy sinh, năm 1976 bà Mận đã kê khai, đứng tên và tiếp tục qu n lý nhà đất nêu trên thể hiện trong sổ mục kê từ năm 1977. Cụ Gồ, cụ Vớt chết không để lại di chúc, nên những người có quyền thừa kế di s n của c c cụ là bà Đinh Thị Vợt, bà Đinh Thị Vươn và ông Đinh Văn Lượng. Bà Vợt, bà Vươn đều x c định không có tranh chấp và x c nhận bà Mận có quyền sử dụng đất. Do đó bà Mận có quyền khởi kiện đòi lại đất là đúng quy định của ph p luật.

[4] Về diện tích đất chị Đinh Thị Hiền chuyển nhượng cho bà Lê Thị N : Theo “giấy b n vườn đất” do chị Đinh Thị Hiền viết, không ghi ngày th ng năm có nội dung thể hiện chị Hiền b n cho bà Nhãn “nửa s u sào” trị gi 1.200 đồng, có x c nhận của ông Kh ng vào năm 1978 (theo x c minh thì đúng là chữ ký của ông Kh ng nguyên là Chủ tịch UBND xã Đằng H i, huyện An H i thời kỳ này) với nội dung duyệt tính thuế 1.088m2 và mức tính thuế là 4 đồng/m2, không có dấu của UBND xã Đằng H i. Trong qu trình gi i quyết, chị Hiền và bà Nhãn đều x c định chuyển nhượng năm 1978; chị Hiền cho rằng diện tích đất chỉ là 5 sào và chị chỉ chuyển nhượng cho bà Nhãn “nửa 5 sào”, x c định chị chỉ ghi số “5” và b n “năm sào”, chị không sửa chữa tẩy xóa số “6” và “s u sào”, chị chỉ b n kho ng 900m2 là nửa 5 sào; nhưng tại Biên b n ngày 22/3/2007 của UBND phường Đằng H i, quận H i An thì chị Hiền x c định đã chuyển nhượng cho bà Nhãn 1.012m2, chị Hiền và người đại diện ủy quyền của chị Hiền (anh Lương Xuân Lưu là chồng chị Hiền) cũng x c định chị Hiền chuyển nhượng ½ diện tích đất cho bà Nhãn. Do đó, có cơ ở để x c định chị Hiền chuyển nhượng cho bà Nhãn 1.012m2. Tuy nhiên, khi chị Hiền chuyển nhượng đất cho bà Nhãn khi bà Hiền mới kho ng 14 tuổi (chị Hiền sinh năm 1964, thời điểm chị Hiền chuyển nhượng đất cho bà Nhãn vào năm 1978) không có người đại diện hợp ph p của chị Hiền đồng ý là vi phạm kho n 2 Điều 3 Ph p lệnh hợp đồng dân sự năm 1991. Mặt kh c, diện tích đất chị Hiền chuyển nhượng cho bà Nhãn có nguồn gốc của ông bà nội chị Hiền (cụ Gồ, cụ Vớt) và từ năm 1976 do bà Mận (là mẹ chị Hiền) đứng tên trong sổ mục kê, nên chị Hiền chỉ có ¼ quyền sử dụng diện tích 2028m2 đất nêu trên thuộc quyền sử dụng hợp ph p của chị Hiền, do hưởng thừa kế của ông Lượng (là bố đẻ của chị Hiền). Do đó, việc chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng này giữa chị Hiền và bà Nhãn là tr i ph p luật - Chị Hiền chưa đủ tuổi để giao kết hợp đồng. Vì vậy, theo quy định tại c c điểm a, b kho n 1 và kho n 2 Điều 15 của Ph p lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 thì hợp đồng này vô hiệu và theo hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm ph n tòa n nhân dân tối cao thì thời hạn yêu cầu Tòa n tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu đối với phần diện tích đất thuộc quyền chuyển nhượng hợp ph p của chị Hiền (phần diện tích đất mà chị Hiền được hưởng thừa kế của ông Lượng) là 03 năm, còn đối với phần diện tích đất của bà Mận (bao gồm ½ diện tích 2028m2 và phần diện tích đất bà Mận được hưởng thừa kế của ông Lượng) như trên đã phân tích cho thấy phần diện tích vườn đất mà chị Hiền b n cho bà Lê Thị N khi chưa được sự đồng ý của bà Mận là vi phạm ph p luật. Theo quy định tại điểm a tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm ph n tòa n nhân dân tối cao thì: "Đối với giao dịch dân sự được giao kết trước ngày 1/7/1996 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 15 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 bao gồm: nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật,... thì thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế. Trong mọi thời điểm một bên hoặc các bên đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Trong trường hợp các bên vẫn thực hiện hợp đồng và phát sinh tranh chấp, cho nên một bên hoặc các bên khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết, nếu trong quá trình giải quyết Toà án xác định giao dịch dân sự đó là vô hiệu thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 15 của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự, thì Toà án có quyền tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu và xử lý hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm giao dịch được xác lập".

Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị M về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Đinh Thị Hiền và bà Lê Thị N vô hiệu do nội dung hợp đồng vi phạm điều cấm của ph p luật. Việc gi i quyết hậu qu ph p lý của Hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo quy định tại điểm đ tiểu mục 2.1 mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm ph n Tòa n nhân dân tối cao. Về x c định lỗi và tr ch nhiệm bồi thường thiệt hại của c c bên cho thấy khi chuyển nhượng, bà Nhãn biết rõ là đất không ph i của chị Hiền và chị Hiền mới 14 tuổi, nên lỗi làm hợp đồng vô hiệu thuộc về c hai bên với mức độ lỗi ngang nhau.

[5] Về diện tích đất đổi: Theo lời thừa nhận của chị Hiền và anh Lương Xuân Lưu (là chồng chị Hiền), lời khai của anh Hà Văn Gi ng (là con b c Vợt là b c ruội chị Hiền) và c c tài liệu chứng cứ kh c có trong hồ sơ vụ n (như giấy biên nhận tiền chuyển nhượng của chị Hiền thể hiện chị Hiền chuyển nhượng đất cho anh Gi ng, b n đồ địa chính thể hiện việc chỉnh lý đất, c c Văn b n của UBND xã Đằng H i, UBND quận H i An) có cơ ở để x c dịnh sau khi chuyền nhượng diện tích đất 1.012m2 cho bà Nhãn thì chị Hiền đổi và đã chuyển nhượng 360m2 đât này cho anh Gi ng. Tuy nhiên, như đã nêu trên thi chị Hiền không có quyền sử dụng đất hợp ph p, nên việc chị Hiền đã đổi và giao cho Hợp t c xã, chuyển nhượng đất cho anh Gi ng cũng không hợp ph p.

[6] Theo kết qu thẩm định, định gi tài s n ngày 13/5/2020 đối với hiện trạng sử dụng đất của bà N, ông C đang qu n lý sử dụng thể hiện: Thực tế diện tích đất của gia đình bà N đang sử dụng là 1.611,99m2 và c c công trình xây dựng trên đất (có sơ đồ đo vẽ chi tiết); thực tế diện tích đất gia đình ông C đang sử dụng là 561,13m2 và c c công trình xây dựng trên đất (có sơ đồ đo vẽ chi tiết). Tổng diện tích đất của bà N, ông C hiện tại đang sử dụng là 2.173,12m2 (đất chưa có giấy chứng nhận quyền dụng đất, hiện nằm trong quy hoạch dự n do địa phương cung cấp); Tại thời điểm khi Tòa n xét xử gi trị đất theo gi nhà nước quy định có gi kho ng 4.000.000 đồng/m2, gi trị đất theo gi thị trường tại thời điểm hiện tại có gi kho ng 8.000.000 đồng/m2

[6] Về gi i quyết hậu qu hợp đồng vô hiệu: Theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật dân sự năm 1995 và hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm ph n Tòa n nhân dân tối cao, thì:

- Bà Lê Thị N (đã chết), người thừa kế nghĩa vụ ông Đàm Văn H, chị Đàm Thị N, anh Đàm Văn T, anh Đàm Văn T, chị Vũ Thị Kim D ph i tr lại cho bà Lương Thị M toàn bộ diện tích đất và cây cối trên đất mà chị Hiền đã chuyển nhượng cho bà Nh. Diện tích đất đo đạc thực tế bà Nhãn và gia đình đang sử dụng được x c định là 1.611,99m2.

- Chị Đinh Thị H ph i tr lại cho bà Lê Thị N số tiền chuyển nhượng đất đã nhận là 1.200 đồng và kho n tiền mà bà N và gia đình đã đầu tư để c i tạo làm tăng gi trị quyền sử dụng đất, gi trị công trình, tài s n...trên đất. Ngoài ra, chị H ph i bồi thường thiệt hại cho bà N kho n tiền chênh lệch gi trị quyền sử dụng đất theo gi thị trường tại địa phương nơi có đất đang tranh chấp vào thời điểm xét xử. Tuy nhiên, trong qu trình xét xử và tại phiên tòa bà Lương Thị M có ý kiến do lỗi của chị Đinh Thị H (là con g i bà) nên bà có quan điểm có tr ch nhiệm đối với phần lỗi của chị Hiền và yêu cầu nhận một phần diện tích là 700m2 từ ông Đàm Văn H, chị Đàm Thị N, anh Đàm Văn T, anh Đàm Văn T, chị Vũ Thị Kim D, phần diện tích còn lại để gia đình ông H sử dụng. Xét yêu cầu là phù hợp, chị H và ông Đàm Văn H, chị Đàm Thị N, anh Đàm Văn T, anh Đàm Văn T, chị Vũ Thị Kim D không ph i thanh to n tiền bồi thường thiệt hại do hợp đồng nêu trên vô hiệu cho nhau, cần được chấp nhận.

Đối với diện tích 561,13m2 (theo biên b n thẩm định) ông Lê Đức Chờn và gia đình đang qu n lý sử dụng trước kia nằm trong diện tích 1.012m2 đất do chị Đinh Thị Hiền qu n lý sử dụng (theo sổ mục kê kiêm thống kê năm 1985, tờ b n đồ số 2, thửa 231). Năm 1986, chị Đinh Thị Hiền dùng một phần diện tích đất đó đổi cho Hợp t c xã Đằng H i để nhận một diện tích đất mặt đường Ngô Gia Tự (thuộc khu vực Cống Trắng), chị Hiền b n cho anh Hà Văn Gi ng một phần diện tích 360m2 và anh Gi ng cũng đã dùng diện tích đất mua của bà Hiền đổi cho Hợp t c xã Đằng H i lấy diện tích đất ở nơi kh c. Tuy nhiên như b n n gi m đốc thẩm đã đ nh gi việc chị Hiền đổi và giao cho Hợp t c xã, chuyển nhượng đất cho ông Gi ng, ông Chờn sử dụng đất của hợp t c xã giao không có ý kiến của bà Mận là không hợp ph p, lẽ ra ông Chờn ph i tr lại cho bà Mận phần diện tích đất ông Chờn và gia đình đang sử dụng, nhưng bà Mận có ý kiến do ông Chờn cùng gia đình đã sử dụng phần đất nêu trên để ở, chị Hiền có phần lỗi tự ý đổi, chuyển nhượng đất của bà, nhưng bà tự nhận có tr ch nhiệm đối với phần lỗi của chị Hiền. Vì vậy, bà Mận yêu cầu ông Chờn ph i chuyển tr cho ph i chuyển tr cho bà phần diện tích là 200m2, phần diện tích còn lại kho ng 360m2 bà Mận đồng ý để ông Chờn và gia đình sử dụng là phù hợp, nên cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu của bà Mận đòi ông Hiều và bà Nhãn chi tr c c cây cối trên đất bao gồm: 06 cây khế, 50 cây chuối, 100m dài cây tre và 02 cây ổi, nay tại phiên tòa bà rút yêu cầu, nên cần đình chỉ yêu cầu này của bà Mận.

Về n phí sơ thẩm: Miễn n phí n phí dân sự sơ thẩm cho bà Lương Thị M, do bà Mận là người cao tuổi.

Vì c c lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ c c Điều 130, 137, 146 và Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 1995;

Căn cứ c c Điều 164, 166 BLDS 2015;

Căn cứ Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ kho n 2, 3 Điều 26; điểm a kho n 1 Điều 35; điểm a kho n 1 Điều 39 Điều 147, Điều 202, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị M về yêu cầu không công nhận giao dịch chuyển nhượng đất, kiện đòi quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất đối với bà Lê Thị N , ông Lê Đức C.

2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ b n đồ số 4 tại tổ dân phố số 6 phường Đằng H i, quận H i An, H i Phòng giữa bà Đinh Thị H và bà Lê Thị N được x c lập năm 1978 vô hiệu.

3. Buộc bà những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị N là ông Đàm Văn H, chị Đàm Thị N, chị Đàm Thị N, anh Đàm Văn T, anh Đàm Văn T, ph i tr lại cho bà Lương Thị M diện tích đất 698,11m2 (có sơ đồ kèm theo và ghi nhận mốc giới tại c c điểm M,G,H,I,J,K,L) thuộc thửa đất số 76, tờ b n đồ số 4 tại tổ dân phố số 6 phường Đằng H i, quận H i An, H i Phòng.

Buộc ông Lê Đức C, bà Đinh Thị H, chị Lê Thị H, anh Lê Đức C ph i tr lại cho bà Lương Thị M diện tích đất 200,36m2 (có sơ đồ kèm theo và ghi nhận mốc giới tại c c điểm A,B,C,D,E,F,G,H,M,N) thuộc thửa đất số 76, tờ b n đồ số 4 tại tổ dân phố số 6 phường Đằng H i, quận H i An, H i Phòng.

4. Đình chỉ yêu cầu của bà Lương Thị M yêu cầu bà Lê Thị N ph i tr lại cho bà 06 cây khế, 50 cây chuối, 100m dài cây tre và 02 cây ổi.

5. Về n phí: Miễn n phí dân sự sơ thẩm cho bà Lương Thị M do bà Mận là người cao tuổi.

6. Về quyền kh ng c o:

C c đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kh ng c o trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên n.

C c đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kh ng c o trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được b n n hoặc b n n được niêm yết theo quy định của ph p luật.

Trường hợp b n n, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành n dân sự thì người được thi hành n dân sự, người ph i thi hành n dân sự có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành n dân sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành n dân sự.

Cỡ chữ