vanban.org

Bản án 18/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tấn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08.12.2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HS-ST
Ngày: 28/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Trương Tấn Thành.

2. Bà: Trần Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thanh Lê Anh Tuấn, Thư ký tòa án huyện Tuy Phong

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Hứa Hải Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2019/HSST, ngày 22/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tấn N (tên gọi khác: A); Giới tính: Nam; sinh ngày 13/6/1991 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện T; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B và mẹ: Nguyễn Thị D; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt ngày 08.12.2018, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong (có mặt).

- Người làm chứng: Bùi Văn E, sinh năm 1995. Nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08.12.2018, Đồn biên phòng Hòa Minh tuần tra tại khu vực tiệm Internet TC thuộc thôn H 1, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tấn N sinh năm 1991 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của N có 01 gói nylon màu trắng kích thước (6cm x 10cm) bên trong có 11 đoạn ống nhựa màu trắng kích thước (0,5cm x 01cm) được hàn kín 02 đầu bên trong có chất rắn màu trắng (niêm phong trong phong bì số 01), N khai nhận chất rắn là Heroin của N cất giấu để sử dụng. Thu giữ trên người của N 01 điện thoại di động hiệu Viettel màu đen trắng có gắn sim số thuê bao 0327724502 và số tiền 500.000 đồng (có Bùi Văn E chứng kiến).

Tại bản kết luận giám định số 1140/KLGĐ-PC54 ngày 11/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1913 gam là heroin.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-TP ngày 22.01.2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận cáo trạng tuy tố đúng với hành vi bị cáo thực hiện, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 12/CT-VKS-TP ngày 22/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn N mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm 01 gói nylon, 11 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,1368 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1140 là vật cấm lưu hành.

+ Trả lại cho bị cáo số tiền 500.000 đồng đã thu giữ của bị cáo.

Riêng 01 điện thoại di động Viettel màu đen trắng có gắn sim số thuê bao 0327724502, đây là tài sản riêng của N không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn N đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 12/ CT-VKS-TP ngày 22/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra vào khoảng 19 giờ giờ 30 phút ngày 08/12/2018 tại khu vực tiệm Internet TC thuộc thôn H, xã C, huyện T do bị cáo Nguyễn Tấn N đang cất giấu 01 gói ma túy bên trong có 11 đoạn ống nhựa màu trắng có khối lượng 0,1913 gam Heroin để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Vì vậy, Cáo trạng số 12/CT-VKS-TP ngày 22/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Nguyễn Tấn N về tội “Tàng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Tấn N là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được pháp luật luôn nghiêm cấm hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vì bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật tìm mua ma túy để sử dụng thì bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trên người 0,1913 gam heroin. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi tàng trữ 0,1913 gam heroin của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Xử lý vật chứng:

+ Đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon, 11 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,1368 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1140 là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo đã làm rõ đây là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Riêng 01 điện thoại di động Viettel màu đen trắng có gắn sim số thuê bao 0327724502, đây là tài sản riêng của N không liên quan đến vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo N là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tấn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08.12.2018.

[2] Biện pháp tư pháp:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon, 11 đoạn ống nhựa màu trắng đã cắt lấy mẫu và 0,1368 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1140 (tất cả vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tuy Phong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

Trả lại cho bị cáo số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) (theo biên lai thu tiền số 0002251 ngày 04/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ