vanban.org

Bản án 18/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xuân C về tội “Gá bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS, các bị can

Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Chiến cùng đồng phạm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xuân C về tội “Gá bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS, các bị can
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu xung công quỹ nhà nước; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN THIỆU HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hoá

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------o0o--------
Bản án số 18/2019/HSST
Ngày 17/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ, TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hà

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Dũng Tấn và ông Lê Ngoc Hưng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu, Thư ký Toà án Thiệu Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá tham gia phiên tòa.

Bà Lê Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2019 mở phiên toà công khai tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019, đối với các bị cáo:

1- Nguyễn Xuân C, sinh năm: 1989 Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1965; Con bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1964 cư trú tại xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa.

Vợ Lê Thị P, sinh năm 1999, Có 01 con, sinh năm 2018.

Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2- Nguyễn Xuân P, sinh năm 1989 Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ văn hoá: 12/12 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1965; Con bà Đỗ Thị T, sinh năm 1967. Hiện làm ruộng và sinh sống tại xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

3- Trần Văn L, sinh năm: 1993 Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Văn T, sinh năm 1960; Con bà Bùi Thị B, sinh năm 1965 Hiện làm ruộng và sinh sống tại xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

4- Đỗ Quốc C, sinh năm 1988 Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 6, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Văn hóa: 08/12, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đỗ Tất Đ, sinh năm 1952; Con bà Trịnh Thị T, sinh năm 1957 Hiện làm ruộng và sinh sống tại xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa.

Vợ: Phạm Thị N Sinh năm 1990, có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

5- Lê Thanh T, sinh năm: 1992 Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Văn hóa: 12/12, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Lê Văn C, sinh năm 1969; Con bà Trần Thị H, sinh năm 1969, Hiện làm ruộng và sinh sống tại xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

6- Trần Văn H, sinh năm: 1971 Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn 6, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Văn hóa: 07/12, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Văn H, sinh năm 1949; Con bà Lê Thị H, sinh năm 1951 Hiện làm ruộng và sinh sống tại xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa.

Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân Thân – Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bến cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 10.000.000đ về tội Đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15h30 ngày 13/3/2019, tại nhà Nguyễn Xuân C ở Thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Công an huyện Thiệu Hóa bắt quả tang 05 (năm) đối tuợng gồm Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T, Trần Văn H đang đánh bạc dưới hình thức “đánh liêng” ăn tiền. Thu giữ tại chỗ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã qua sử dụng, 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng, số tiền 11.650.000đ (mười một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng), thu giữ cạnh chiếu bạc 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng), 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng. Kiểm tra trên người các đối tượng phát hiện và thu giữ:

+ Thu giữ của Nguyễn Xuân P: 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu đen đã qua sử dụng;

+ Thu giữ của Trần Văn L: 01 (một) ĐTDĐ Oppo màu hồng đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 4.000.000đ (bốn triệu đồng);

+ Thu giữ của Đỗ Quốc C: 01 (một) ĐTDĐ Samsung màu vàng đã qua sử dụng; 01 ĐTDĐ Mobie star màu xám đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng);

+ Thu giữ của Lê Thanh T: 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu vàng đã qua sử dụng;

+ Thu giữ của Trần Văn H: 01 (một) ĐTDĐ Samsung màu xám đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 10.000.000đ (mười triệu đồng);

+ Thu giữ của Nguyễn Xuân C: 01 (một) ĐTDĐ Oppo màu đen đã qua sử dụng.

Tại Cơ quan CSĐT các đối tượng khai nhận:

Khoảng 14h ngày 13/3/2019 sau khi đi ăn giỗ họ với nhau Nguyễn Xuân C, Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C và Lê Thanh T ru nhau lên quán Ngọc Linh ở xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa uống café, đang ngồi uống café thì P, L, C và T rủ nhau đánh bài ăn tiền và hỏi C mượn nhà C để đánh bạc với nhau, C đồng ý. Sau đó, tất cả cùng về nhà C ở thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trên đường về, C vào cửa hàng tạp hóa mua 08 (tám) bộ bài tú lơ khơ với giá 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng), về đến nhà, C mở cửa buồng ngủ của vợ chồng C và chỉ cho các đối tượng nêu trên vào để ngồi đánh bạc, trong buồng dưới đất đã có 01 (một) chiếc chiếu đã chải sẵn do C chải ra để con C chơi trước đó, rồi C đi pha chè, lấy thuốc lá và nước ngọt phục vụ các con bạc. Ngay lúc này Trần Văn H đến và vào cùng tham gia đánh bạc. Tất cả 05 (năm) người gồm P, L, C, T và H ngồi xuống chiếu đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh liêng, với cách thức dùng một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây bài có thứ tự từ cây A đến cây K, chia cho người chơi mỗi người 3 cây bài trong một ván bài, thống nhất cách tính điểm trên lá bài phân định thắng thua để ăn tiền của nhau, quy định, mỗi người chơi bỏ ra 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) xuống chiếu gọi là tiền "Đóng nước". Sau đó người chia bài sẽ tính điếm bài của mình, nếu thấy điếm của mình cao thì có thế "tố" (tức mua, không giới hạn số tiền, bỏ thêm số tiền đó vào tiền đóng nước ban đầu), sau đó đến người tiếp theo (tính từ phải qua trái) nếu thấy bài của mình cao điểm hơn thì theo số tiền bằng người trước hoặc có thế tố số tiền cao hơn người trước. Nếu không theo thì có thể không đóng thêm tiền và bỏ bài coi như là thua ván đó. Đến người tiếp theo cũng tuần tự như vậy. Khi mọi người đã theo mà có ít nhất hai người chơi có số tiền mua bằng nhau thì tính điểm để so bài, ai cao điểm hơn thì được ăn toàn bộ số tiền dưới chiếu. Nếu những người so bài có số điểm bằng nhau, hoặc có bài "Đĩ", "Liêng" giống nhau thì ván bài này được gọi là "CH". Khi đó sẽ đếm tổng số tiền trong ván chia đều cho số người có bài "CH", những người không có bài "CH" có thể theo hoặc không theo để chơi tiếp ván đó. Nếu những người không có bài "CH" theo thì phải đóng thêm số tiền bằng với số tiền đã chia đều cho những người có bài "CH" và chơi tiếp. Trong trường hợp không có ai theo thì số tiền trong ván được chia đều cho những người có bài "CH" sau đó đánh ván mới. Người cầm cái tiếp theo là người kế tiếp của người có bài "CH" cuối cùng. Trong mỗi ván bài, bài "Sáp" là to nhất, tức là có 03 con bài giống nhau, Sau đó đến "Liêng" tức là có 03 con bài liên tiếp nhau, trong đó "Liêng" QKA là to nhất. Sau đó đến "Đĩ" tức là có 03 cây bài hình ông người không liên tiếp nhau, nếu bài không thuộc các trường hợp trên thì tính điểm từ cao xuống thấp, tức là cộng số điểm của cả 03 cây bài lại với nhau và lấy hàng đơn vị của tổng 03 cây bài để so điêm, ai cao điểm hơn thì được ăn, băng điểm cao nhât thì "CH". Trong đó từ cây át đến cây 9 tính là 1 đến 9 điểm, con bài số 10 và con bài hình ông người tính là 0 điểm. Quy định "Sáp" thắng "Liêng", "Liêng" thắng "Đĩ", "Đĩ" thắng "Điểm". Có thể trong ván bài, người có số điểm ít nhưng tố thêm tiền mà những người kế tiếp không theo và bỏ bài thì thắng. Tất cả thỏa thuận với nhau, nếu ván nào “CH” thì sẽ cắt ra 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) bằng tiền đóng cái trên một ván bỏ ra cho chủ nhà để chủ nhà phục vụ nước, thuôc lá và công phục vụ. P là người quản lý số tiền này và có nhiệm vụ sẽ giao lại cho C sau khi đánh bạc xong. Quá trình chơi, nhóm đánh bạc đã cắt ra được 250.000đ ( hai trăm năm mươi nghìn đông) để ở dưới chiếu. Đên khoảng 15h có anh Nguyễn Xuân Thức sinh năm 1973 trú tại Thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đến nhà C nhưng chỉ ngồi xem mà không tham gia đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc với nhau đến 15h30 phút cùng ngày bị lực lượng Công an huyện Thiệu Hóa bắt quả tang.

Số tiền từng người sử dụng dùng để đánh bạc cụ thể như sau:

+ Nguyễn Xuân P mang theo 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng), sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, đến khi bị bắt P không còn tiền trong người.

+ Trần Văn L mang theo 5.200.000đ (năm triệu hai trăm nghìn đồng), sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, đến khi bị bắt, bị thu giữ 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

+ Đỗ Quốc C mang theo 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), sử dụng toàn bộ sô tiên này đê đánh bạc, đên khi bị bắt, bị thu giữ 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đong). "

+ Lê Thanh T mang theo 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng), T sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, đến khi bị bắt, T không còn tiền trong người.

+ Trần Văn H mang theo 11.500.000đ (mười một triệu năm trăm nghìn đồng), sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, đến khi bị bắt, bị thu giữ 10.000.000d (mười triệu đồng).

Quá trình điều tra, chứng minh được tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 32.400.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

Với hành vi nêu trên các bị cáo Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá tỉnh Thanh Hoá truy tố về tội “ Đánh bạc”theo khoản 1 điều 321 BLHS; Nguyễn Xuân C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá tỉnh Thanh Hoá truy tố về tội “ Gá bạc”theo khoản 1 điều 322 BLHS

Tang vật vụ án Cơ quan điều tra đã trã lại chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến chiếu bạc gồm 07 (bảy) chiếc điện thoại, số còn lại gồm 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng và 32.400.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng). đang quy trữ tại Chi cục thi hành án Thiệu Hóa, theo biên bản bàn giao tang vật ngay 16/5/2019.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 BLHS; truy tố Nguyễn Xuân C về tội “ Gá bạc” theo khoản 1 điều 322 BLHS. Căn cứ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo đại diện VKSND huyện Thiệu Hóa đề nghị:

Áp dụng hình phạt tiền theo khoản 1 điều 321 điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 17, điều 58 BLHS phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T, mức phạt mỗi bị cáo từ 30 đến 40 triệu đồng.

Bị cáo Trần Văn H có nhân thân xấu đề nghị áp dụng khoản 1 và 3 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 điều 17, điều 58 BLHS xử phạt Trần Văn H từ 12 đến 15 tháng tù, trừ thời gian tạm giữ cho bị cáo, đề nghị phạt tiền đối với Trần Văn H mức phạt từ 15 đến 20 triệu đồng.

Áp dụng điểm c khoản 1 và 3 điều 322, điểm s khoản 1 điều 51, điều 17, điều 58 điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt Nguyễn Xuân C, từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách nhân đôi, phạt tiền đối với bị cáo mức phạt từ 25 đến 30 triệu đồng.

Tang vật vụ án: Đề nghị áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số tiền vật chứng là 32.400.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước; các tang vật gồm 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng không có gía trị đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng sự kHn hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần tố tụng và hành vi tố tụng:

Cơ quan điều tra công an huyện Thiệu Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa đã T hành đúng theo quy định của pháp luật về thời hạn điều tra, truy tố, các biên bản hỏi cung và các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã được tuân thủ đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về nội dung:

Tại phiên toà công khai Nguyễn Xuân C, Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đúng như cáo trạng đã nêu và đã được kiểm tra, thẩm định tại phiên tòa , Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 14h ngày 13/3/2019 sau khi đi ăn giỗ họ với nhau, Nguyễn Xuân C, Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C và Lê Thanh T có lí lịch nêu trên rủ nhau đi uống cafe tại quán cafe Ngọc Linh ở xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, trong khi đang uống cafe thì P, L, C và T rủ nhau đánh bài ăn tiền và hỏi C mượn nhà C để đánh bạc với nhau, C đồng ý. Sau đó, tất cả cùng về nhà C ở thôn 4, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trên đường về, C vào cửa hàng tạp hóa mua 08 (tám) bộ bài tú lơ khơ với giá 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng), về đến nhà, C mở cửa buồng ngủ của vợ chồng C và chỉ cho các đối tượng nêu trên vào để ngồi đánh bạc với nhau còn C đi pha chè, lấy thuốc lá và nước ngọt phục vụ các con bạc. Ngay lúc này Trần Văn H đến và vào tham gia đánh bạc cùng P, L, C, T. Tất cả 05 (năm) người ngồi xuống chiếu do C chải sẳn cho con chơi từ trước để đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh liêng.

Với cách thức dùng một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây bài có thứ tự từ cây A đến cây K, chia cho người chơi, mỗi người được chia 3 cây bài trong một ván bài, các bị cáo thống nhất cách đánh, cách tính điểm trên lá bài phân định thắng thua để ăn tiền của nhau.

Tất cả thỏa thuận, nếu ván nào có “CH” thì sẽ cắt ra 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) bằng tiền đóng cái trên một ván bỏ ra cho chủ nhà để chủ nhà phục vụ nước, thuốc lá và công phục vụ. P là người quản lý số tiền này và có nhiệm vụ sẽ giao lại cho C sau khi đánh bạc xong. Quá trình chơi, nhóm đánh bạc đã cắt ra được 250.000đ ( hai trăm năm mươi nghìn đông) để ở dưới chiếu. Nguyễn Xuân C cho các con bạc mượn địa điểm để đánh bạc, không yêu cầu phải cắt tiền hồ cho C, nhưng C biết các con bạc sẽ cắt tiền hồ cho C, C đã không từ chối và sẽ lấy số tiền này để chi trả tiền mua bài, nưóc, thuốc lá và công phục vụ, dọn dẹp vệ sinh.

Cả nhóm đánh bạc với nhau đến 15h30 phút cùng ngày bị lực lượng Công an huyện Thiệu Hóa bắt quả tang, thu giữ tại chỗ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây đã qua sử dụng, 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 11.650.000đ (mười một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng), thu giữ bên cạnh chiếu bạc 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) và 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng.

Kiểm tra trên người các đối tượng phát hiện và thu giữ:

+ Thu giữ của Nguyễn Xuân P: 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu đen đã qua sử dụng;

+ Thu giữ của Trần Văn L: 01 (một) ĐTDĐ Oppo màu hồng đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 4.000.000đ (bốn triệu đồng);

+ Thu giữ của Đỗ Quốc C: 01 (một) ĐTDĐ Samsung màu vàng đã qua sử dụng; 01 ĐTDĐ Mobie star màu xám đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng);

+ Thu giữ của Lê Thanh T: 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu vàng đã qua sử dụng;

+ Thu giữ của Trần Văn H: 01 (một) ĐTDĐ Samsung màu xám đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 10.000.000đ (mười triệu đồng);

+ Thu giữ của Nguyễn Xuân C: 01 (một) ĐTDĐ Oppo màu đen đã qua sử dụng.

Tổng số tiền cơ quan điều tra thu tại xới bạc là 32.400.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) quá trình điều tra và tại phiên tòa đã được chứng minh làm rõ số tiền trên các bị cáo đã dùng để đánh bạc, đủ căn cứ xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc nhau với lượng tiền là 32.400.000đ. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS, kết luận Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc" như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá truy tố trước Toà là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Xuân C, mặc dù C cho các con bạc mượn địa điểm để đánh bạc, không yêu cầu phải cắt tiền hồ cho C, nhưng C biết các con bạc sẽ cắt tiền hồ cho C, C đã không từ chối và sẽ lấy số tiền này để chi trả tiền mua bài, nưóc, thuốc lá và công phục vụ, dọn dẹp vệ sinh và thực tế C đã mua bài, thuốc lá, nưóc ngọt, phục vụ chè nước cho các con bạc, cho các con bạc mượn địa điểm để đánh bạc do vậy kết luận Nguyễn Xuân C phạm tội “ Gá bạc”theo khoản 1 điều 322 BLHS là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất vụ án thì thấy :

Đây là vụ án xâm phạm trật tự quản lý xã hội, các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau bằng tiền. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an xã hội và là những nguyên nhân dẫn đến phát sinh nhiều loại tội phạm khác cần phải loại bỏ. Các bị cáo có đủ nhận thức hiểu đựơc điều này, đồng thời biết rõ hành vi đánh bạc, gá bạc của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên đã cố tình thực hiện hành vi hòng thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm minh để giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện và phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét một cách toàn diện Hội đồng xét xử thấy việc đánh bạc, gá bạc nêu trên của các bị cáo không mang bản chất chuyên nghiệp các bị cáo đều là anh em trong họ với nhau sau khi ăn giỗ họ với nhau, ngẫu hứng rủ nhau đánh bài dẫn đến việc phạm tội đánh bạc Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.

Về hành vi bạc:

Trong vụ án này các bị cáo Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C và Lê Thanh T có hành vi tương xứng như nhau tham gia đánh bạc với mức ngang có cùng một vai trò, do vậy áp dụng mức hình phạt chung cho các bị cáo. Riêng đối với bị cáo Trần Văn H tuy có hành vi như P, L, C và T nhưng bị cáo có nhân thân xấu, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bến cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 10.000.000đ về tội Đánh bạc không chịu tu dưỡng nay lại phạm tội cùng loại thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo, mặc dù bị cáo đã thành khẩn khai báo nhưng không vì thế mà cho bị cáo hưởng thêm một lần nữa sự kHn hồng của pháp luật, do vậy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng thêm hình phạt phụ theo khoản 3 điều 321 BLHS đối với bị cáo với đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội.

Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C và Lê Thanh T có vai trò tham gia tích cực ngang nhau, các bị cáo đều lần đầu tiên phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 BLHS Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất là những tệ nạn xã hội, bộc phát phạm tội, thu lợi qua hành vi đánh bạc với nhau không mang bản chất chuyên nghiệp nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, xử phạt các bị cáo cũng đủ răn đe giáo duc và phòng ngừa chung.

Về hành vi gá bạc:

Nguyễn Xuân C cho các con bạc mượn địa điểm để đánh bạc, không yêu cầu phải cắt tiền hồ, nhưng C biết các con bạc sẽ cắt tiền hồ cho C, C không từ chối để mặc, nhằm hưởng lợi nên cần áp dụng hình phạt thỏa đáng với hành vi C đã thực hiên, tuy nhiên bị cáo lần đầu phạm tội, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất bộc phát trên sự hưng phấn của anh em trong nhà mà phạm tội, thu lợi qua hành vi đánh bạc của các bị cáo khác, không mang bản chất chuyên nghiệp nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, xử phạt bị cáo cũng đủ răn đe giáo duc và phòng ngừa chung.

Về tang vật:

Cơ quan điều tra đã thu giữ 32.400.000đ (ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng đang được quy trữ tại Chi cục thi hành án huyện Thiệu Hoá theo biên bàn giao ngay 16/5/2019.

áp dụng: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền đánh bạc của các bị cáo. 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng không có gí trị tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Các bị cáo phải chiu án phí HSST theo quy định tại điều 135 BLTTHS, Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Từ những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ: Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc".

Nguyễn Xuân C phạm tội “ Gá bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 và 3 Điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự, Xử phạt: Trần Văn H 12 ( Mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ đi thời gian tam giữ là 09 (chín) ngày ( từ 13/3/2019 đến ngày 22/3/2019).

Phạt tiền Trần Văn H 15.000.000đ ( Mười lăm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự, Phạt tiền Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T mỗi bị cáo 30.000.000đ ( Ba mươi triệu đồng )sung công quỹ nhà nước.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 điều 51, điều 35, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự, Phạt tiền Nguyễn Xuân C 55.000.000đ ( Năm mươi lăm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

Về vật chứng:

Vật chứng vụ án đang quy trữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thiệu Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2019.

Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tuyên tịch thu số tiền 32.400.000đ (Ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) sung công quỹ nhà nước.

Tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếu cói đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 07 (bảy) bộ bài tú lơ khơ chưa qua sử dụng.

VỀ ÁN PHÍ: Áp dụng: Điều 135 BLTTHS; Điều 21, khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Tiểu mục 1 Mục I; phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.

Buộc Nguyễn Xuân C, Nguyễn Xuân P, Trần Văn L, Đỗ Quốc C, Lê Thanh T và Trần Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự, người bị thi hành án không tự giác thi hành hoặc thi hành chậm số tiền phải thi hành thì phải chịu lãi chậm thi hành án, lãi suất được tính theo quy định tại k2 điều 468 BLDS Đồng thời người có nghĩa vụ thi hành án không tự nguyện thi hành án sẽ bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có măt các bị cáo,tuyên bố các bị cáo được Q kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ