- Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm Thị Lan. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 18/2019/HSST Ngày 06 tháng 03 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Duy Quyết
Ông Đinh Công Hiến
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 06/3/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/HSST ngày 24/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:
* Phạm Thị L (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1982; tại huyện Q, tỉnh N; trú tại thôn T, xã Đ, huyện Q, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L vµ bµ Vũ Thị Đ; chồng Nguyễn Văn L, và có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại:
Bà Vũ Thị N, sinh năm 1948 (đã chết). Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh N.
* Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại:
Ông Vũ Đức K, sinh năm 1944 (Là chồng bà N);
Chị Vũ Thị T, sinh năm 1974 (Là con bà N);
Anh Vũ Đức H, sinh năm 1980 (Là con bà N);
Anh Vũ Đức H1, sinh năm 1983 (Là con bà N);
Chị Vũ Thị H2, sinh năm 1985 (Là con bà N);
Đều trú tại thôn A, xã T, huyện V, tỉnh N;
Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1971 (Là con bà N);
Trú tại xóm 9, xã G, huyện V, tỉnh N;
Chị Vũ Thị H3, sinh năm 1977 (Là con bà N);
Trú tại: Ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh B.
(Chị Vũ Thị T, anh Vũ Đức H, anh Vũ Đức H1, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị N1, chị Vũ Thị H3 đều ủy quyền cho ông Vũ Đức K theo văn bản ủy quyền ngày 12/11/2018). Ông K có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời làm chứng:
Chị Đinh Thị N2, sinh năm 1985. Vắng mặt tại phiên tòa.
Ông Vũ Văn K, sinh năm 1957. Vắng mặt tại phiên tòa.
Ông Vũ Văn T, sinh năm 1959. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 02/11/2018, Phạm Thị L (không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô BKS 18S2- ****đi trên đường trục thôn A, xã G, huyện V theo hướng từ thôn A đi UBND xã G. Khi đi trên đường, L nhìn thấy bà Vũ Thị N đang đi bộ phía trước cùng chiều. Khi bà N đi sang đường (từ phải qua trái) theo chiều đi. Do không chú ý quan sát tình trạng mặt đường, nên L đã điều khiển xe mô tô BKS 18S2- **** đâm vào bà N, làm bà N bị ngã đập đầu xuống mặt đường, xe mô tô BKS 18S2- **** bị đổ nghiêng sang trái.
Hậu quả: bà Vũ Thị N bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N, từ ngày 02/11/2018 đến ngày 06/11/2018 thì tử vong.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ xe mô tô biển kiểm soát 18S2- ****, để khám nghiệm phương tiện, thu thập dấu vết của vụ tai nạn giao thông. Ngày 06/11/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân tử vong của bà Vũ Thị N. Song gia đình bà N đã có đơn từ chối khám nghiệm tử thi.
Ngày 22/11/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra quyết định trưng cầu giám định qua hồ sơ bệnh án để xác định nguyên nhân tử vong của bà Vũ Thị N. Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 16/2018/HS-TTPY ngày 05/12/2018 của Trung tâm Pháp y N kết luận nguyên nhân tử vong của bà Vũ Thị N: phù não, dập não, tụ máu DMC, chảy máu não do chấn thương sọ não đã được phẫu thuật sau tai nạn giao thông.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-GV ngày 24/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Phạm Thị L ra trước Tòa án nhân dân huyện V để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”, theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo rất hối hận, đã bồi thường cho gia đình bị hại 76.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại và cũng là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Vũ Đức K trong quá trình điều tra và tại phiên tòa trình bày: Ông là chồng bà N, ngày 02/11/2018 bà N bị tai nạn giao thông được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N, từ ngày 02/11/2018 đến ngày 06/11/2018 thì tử vong; xác nhận, đã thỏa thuận và nhận 76.000.000 đồng, tiền do gia đình bị cáo bồi thường. Ông Vũ Đức K không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì về vấn đề trách nhiệm dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 36 tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Thị L cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi và các dấu vết của vụ tai nạn, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 02/11/2018, Phạm Thị L (không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô BKS 18S2- **** đi trên đường trục thôn A, xã G, huyện V (theo hướng từ thôn A đi UBND xã G). Do không chú ý quan sát tình trạng mặt đường, không làm chủ tốc độ nên đã để phần bánh trước xe mô tô do L điều khiển đâm vào bà Vũ Thị N đang đi bộ sang đường phía trước cùng chiều, làm bà Vũ Thị N bị thương, sau đó tử vong, đã vi phạm vào khoản 5 Điều 4, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người;
b, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d, Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a, Không có giấy phép lái xe theo quy định;
………;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
. Hành vi của bị cáo Phạm Thị L đã nêu trên là phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm vào quy định của Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
. Tai nạn giao thông đang là một vấn nạn nguy hiểm, diễn biến phức tạp mà Nhà nước và xã hội đã và đang đề ra nhiều giải pháp nhằm làm giảm thiểu tai nạn giao thông. Tai nạn giao thông không những gây thiệt hại về vật chất mà còn gây thiệt hại lớn đến tinh thần cho gia đình người bị hại. Vì tai nạn giao thông mà nhiều gia đình bố mẹ mất con, vợ mất chồng, con cái mồ côi, để lại gánh nặng cho gia đình người bị hại nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Bản thân bị cáo là người không có Giấy phép lái xe hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi - lanh từ 50 cm3 đến dưới 175cm3, lẽ ra bị cáo không được phép điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18S2- ****, có dung tích xi – lanh 97cm3 tham gia giao thông, nhưng vì chủ quan, coi thường Luật giao thông đường bộ, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18S2- ****, tham gia giao thông, đã gây ra vụ tai nạn giao thông làm bà Vũ Thị N tử vong. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả toàn bộ thiệt hại theo thoả thuận cho gia đình người bị hại; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại một lần theo thỏa thuận cho gia đình người bị hại số tiền 76.000.000 đồng. Ông Vũ Đức K là người đại diện hợp pháp của người bị hại và cũng là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì về vấn đề trách nhiệm dân sự. V× vËy, vÊn ®Ò tr¸ch nhiÖm d©n sù kh«ng ®Æt ra xem xÐt gi¶i quyÕt.
. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô BKS: 18S2- ****, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Phạm Thị L, xe mô tô có nguồn gốc rõ ràng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả cho Phạm Thị L. Phạm Thị L đã nhận lại xe mô tô trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
VÒ ¸n phÝ: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.
V× c¸c lÏ trªn.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án ngày 06/3/2019.
Giao bị cáo Phạm Thị L cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh N là nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”;
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
2. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Phạm Thị L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND tØnh N; - VKSND tỉnh N; - C«ng an huyÖn V; - Chi cục THADS huyÖn V; - VKSND huyÖn V; - BÞ c¸o; người ĐDHP của người bị hại; - L u hå s¬, v¨n phßng; (Th«ng b¸o cho chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng n¬i bÞ c¸o c tró). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thiện Thành |