- Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Xuân Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Doãn Xuân Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HSST Ngày 19 tháng 6 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Bảo
2. Bà Đinh Thị Út.
Thư ký phiên tòa: ông Lê Mạnh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại nhà văn hóa bản Lụ xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 17/2019/TLST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, đối với bị cáo:
Doãn Xuân Q - Sinh ngày: 30 tháng 12 năm 1973, tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: bản C, xã YS, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: cán bộ công ty cổ phần đường bộ Lào Cai; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Doãn Văn Q1 và bà Nguyễn Thị T, vợ Trần Trần Thị Thanh H bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án tiền sự: chưa có; bị bắt tạm giữ từ ngày 18 tháng 3 năm 2019, tạm giam từ ngày 21 tháng 3 năm 2019 đến ngày 29 tháng 5 năm 2019. Hiện bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh - Có mặt.
Người chứng kiến: Mông Ngọc Hoàn - sinh năm 1974;
Trú tại: Tổ 6B, thị trấn Phố ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/3/2019, Doãn Xuân Q đi bộ từ nhà ở Bản C, xã YS, huyện Bảo Yên đến khu vực bờ hồ thuộc tổ 4A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên để gặp người đàn ông tên Thanh (không rõ địa chỉ) trả tiền vật liệu xây dựng. Sau khi trả số tiền 550.000đ cho người đàn ông tên Thanh, Q lấy điện thoại gọi cho Lê Xuân Trường, trú tại tổ 3B, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên để hỏi mua ma túy để sử dụng. Khi Trường nghe máy, Q chưa kịp nói gì, thì Trường hỏi “Ông đang ở đâu”, Q trả lời “Tôi đang ở bờ hồ đối diện cổng trường mầm non Hoa Hồng” rồi tắt điện thoại đứng đợi Trường thì thấy Trường điều khiển xe ô tô đi lại gần chỗ Q đứng. Lúc này Q thấy cửa kính xe ô tô mở, Trường cầm 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất rắn, vón cục, màu trắng đưa cho Q, Q lấy tay phải cầm gói giấy màu trắng mà Trường đưa cất vào túi quần bên phải, đồng thời lấy 400.000đ thả vào bên trong ghế phụ xe ô tô của Trường. Xong Trường điều khiển xe ô tô đi về phía ngã tư thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên. Còn Q bị tổ công tác Công an huyện Bảo Yên yêu cầu kiểm tra, Q đã tự giác giao nộp 01 gói ma túy cho lực lượng Công an và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) gói nhỏ Heroine có khối lượng 0,28 gam, Cơ quan giám định đã lưu mẫu 0,14 gam , còn lại 0,14 gam Heroine, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung S9 chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên bảo quản theo quy định.
Tại kết luận giám định số 85/GĐMT ngày 19/3/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 01 gói chất bột khô, vón cục màu trắng thu giữ của Doãn Xuân Q ngày 18/3/2019 có khối lượng 0,28 gam là Heroine (Hê rô in).
Tại Cáo trạng số: 17/CT-VKSBY ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên giữ nguyên nội dung Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Doãn Xuân Q từ 01năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Hình phạt bổ sung: Không.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,14 gam heroine đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại hiệu Sam Sung S9.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa:
Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các biên bản hỏi cung và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Bị cáo Doãn Xuân Q đã cất dấu trái phép trong người 0,28 gam Heroine sau đó bị Công an huyện Bảo Yên bắt giữ. Vì vậy đã có đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đồng thời khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị địa phương. Cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm cân nhắc một mức án phù hợp với hành vi của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, Bố đẻ bị cáo ông Doãn Xuân Q1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Cần xác định đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng chữ chất ma túy với mục đích để sử dụng mà không có mục đích mua bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: 0,14 gam heroinne là vật cấm lưu hành. Cần tịch thu, tiêu hủy. 0,14 gam Cơ quan giám định đã tiến hành giám định và lưu mẫu không hoàn lại không đề cập giải quyết. 01 điện thoại hiệu Sam sung S9 bị cáo đã dùng để gọi cho người bán heroine, xác định là phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp quỹ nhà nước.
Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Doãn Xuân Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Doãn Xuân Q 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ 02 tháng 13 ngày tạm giam, tạm giữ.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,14 gam Hêrôin niêm phong trong phong bì in sẵn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên bề mặt phong bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Doãn Xuân Q có hành vi phạm tội về ma túy”. Phát hiện (thu giữ) ngày 18 tháng 3 năm 2019 tại tổ 4A, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”; Tịch thu, nộp quỹ nhà nước 01 điện thoại hiệu Sam sung S9 loại máy cảm ứng màu đen có số IMEI: 355220/09/009909/9; IMEI: 355221/009909/7 hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - THAHS, THADS; - Công an huyện ; - Sở Tư Pháp ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ; TA. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Quang Đại |