- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội vi p…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HS-ST Ngày: 15-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Lê Thị Thu Toàn
+ Ông Đỗ T Đình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn V, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2000, tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi;
Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn B1 và bà Đoàn Thị T; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12-12-2018 đến nay; Có mặt.
- Bị hại: Bà Bùi Thị B, sinh năm 1928 (chết); địa chỉ: Số 106 Q, Phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Ung Văn H, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Ông Ung Văn V, sinh năm 1958; địa chỉ: Số 95 C, Tổ 16, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông Ung Văn V ủy quyền cho ông Ung Văn H; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (theo văn bản ủy quyền ngày 22-01-2019).
- Bị đơn dân sự: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thị Bích H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người làm chứng:
1. Bà Hà Thị M, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 05, Phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bà Bùi Thị Thu H2, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 51 đường Q, Tổ 6, Phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông H, bà T và chị H1 có mặt; Bà M và bà H2 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 05-9-2018, bà Đoàn Thị T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 chở Nguyễn Tấn V đến nhà bác ruột ở xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để lo đám tang. Do phải đi học nên V tự ý lấy xe mô tô nêu trên điều khiển đến Trường Đại học P. Lúc này V chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định của pháp luật.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 đi đến đường Q, thành phố Q theo hướng từ Bắc vào Nam trên phần đường phía Tây với tốc độ khoảng 40km/h. Khi đến đoạn đường trước số nhà 162 Q, thuộc Tổ 8, Phường L, thành phố Q thì V nhìn thấy bà Bùi Thị Thu H2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-332.78 đi phía trước cùng chiều bên phía tay phải theo hướng di chuyển của V. Do thấy xe của bà H2 có kiểu dáng, nhãn hiệu lạ nên V quay mặt sang bên phải nhìn xem nhãn hiệu và loại xe gì, vừa điều khiển xe vượt bên trái xe của bà H2 mà không chú ý quan sát chướng ngại vật ở phía trước. Lúc này, phía trước xe mô tô do V điều khiển có bà Bùi Thị B đang đi bộ qua đường theo hướng từ Tây sang Đông, cách vạch dành cho người đi bộ theo hướng từ Bắc đến Nam khoảng 80 – 90cm. Khi V vừa vượt qua xe của bà H2 và quay mặt nhìn về phía trước thì phát hiện bà B ở phía trước đầu xe. Do khoảng cách gần, V không kịp xử lý nên bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 do V điều khiển tông vào mặt ngoài cẳng chân trái của bà B làm bà B bị ngã, phần đầu va đập xuống nền đường, còn V cùng xe ngã về bên phải và trượt trên đường một đoạn 2,75m thì dừng lại. Sau đó, bà B được người dân gần đó đưa đi cấp cứu, còn V được gia đình đến đưa đi chữa trị vết thương. Đến 22 giờ ngày 06-9-2018 bà B chết.
* Khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ:
Nơi xảy ra tai nạn là tại đoạn đường Q (trước số nhà 162 đường Q) thuộc Tổ 08, Phường L, thành phố Q. Đường Q có phương Bắc Nam, lòng đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng và rộng 10,4m. Giữa đường có vạch kẻ đứt quãng chia đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau. Đường N rộng 5m và là đường hai chiều. Tại nơi giao nhau giữa đường Q và đường N có kẻ vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường.
Chọn trụ điện II/2 QT 12-2005 ở mép phía Đông của đường Q, thuộc Tổ 08, Phường L, thành phố Q làm điểm mốc. Tất cả các dấu vết được đo vào mép phía Tây của đường Q.
Từ trụ điện II/2 QT 12-2005 đo về hướng Tây Nam 7,9m và cách mép phía Tây của đường Q đo về hướng Đông 3,45m trên mặt đường là đầu phía Tây Bắc của vết cày xước mặt đường, vết này có phương Tây Bắc – Đông Nam, vết cày xước đứt quãng, không liên tục, có chiều dài 2,75m, nơi rộng nhất là 0,01m, đầu phía Đông Nam vết này cách mép phía Tây của đường Q đo về hướng Đông là 3,55m (gọi tắt là V1).
Cách đầu phía Tây Bắc của V1 đo về hướng Đông Nam 1,4m và cách mép phía Tây của đường Q đo về hướng Đông 4,85m trên mặt đường là tâm vùng chất lạ màu nâu đỏ dạng loang trong diện kích thước (0,2 x 0,2)m (gọi tắt là V2).
Đầu phía Tây Bắc của V1 cách mép phía Nam của vạch kẻ dành cho người đi bộ (vạch kẻ trước số nhà 162 đường Q) là 2,5m.
Tâm vùng chất lạ màu nâu đỏ (V2) cách mép phía Nam của vạch kẻ dành cho người đi bộ (vạch kẻ trước số nhà 162 đường Q) là 2,65m.
* Khám nghiệm phương tiện xe mô tô mang biển kiểm soát 76X2-0303:
Xe mô tô 76X2-0303, nhãn hiệu Honda, số loại Wave α, màu xanh đen, dài 1,8m, rộng 0,71m, cao 1,1m.
Xe không có gương chiếu hậu.
Hệ thống tay lái cong lệch từ trái qua phải và từ trước ra sau.
Mặt trước gốc chân gương chiếu hậu bên phải có vết mài mòn kim loại trong diện kích thước (0,9 x 0,5)cm.
Mặt trên trước đầu tay thắng bên phải bị mài mòn kim loại trong diện kích thước (1,2 x 1)cm.
Mặt phía trước núm đầu tay lái bên phải có vết mài mòn trầy xước kim loại trong diện kích thước (4 x 1,5)cm.
Tại đầu tay lái bên phải có một thiết bị đèn led kết nối bằng dây dẫn vỏ nhựa màu đen với xe.
Góc sau mặt nhựa bảo vệ đèn tín hiệu trước bên phải bị bể vỡ trong diện kích thước (9 x 4)cm, mặt ngoài vết này có vết trầy xước nhựa.
Mặt ngoài bàn đạp thắng có vết mài mòn kim loại kích thước (3 x 0,4)cm.
Gác chân trước bên phải bị cong lệch về sau 2cm, mặt dưới trước đầu gác chân này có vết trầy xước kim loại trong diện kích thước (1 x 1,5)cm.
Đầu ngoài cùng gác chân sau bên phải bị trầy xước kim loại và mài mòn cao su trong diện kích thước (4 x 3)cm.
Đầu phía trên cánh bửng bên trái tại vị trí tiếp xúc với mép bên trái mặt nạ trước đầu xe bị bung hở so với vị trí lắp ghép, điểm hở rộng nhất là 0,9cm.
Tại vị trí cách mặt đất 78cm, mặt ngoài trên sau cánh bửng bên trái có hai vết trầy xước sơn, vết trên cùng có kích thước (0,2 x 6)cm, vết phía dưới có kích thước (2,1 x 0,2)cm, hai vết này cách nhau 2cm, điểm thấp nhất của vết này cách mặt đất là 76cm.
Tại vị trí cách van ruồi 13cm theo chiều ngược tiến của bánh trước xe, mặt hông bên trái bánh trước có vết chà sạch bụi trong diện kích thước (8 x 4)cm.
Tại vị trí cách đầu phía dưới 14cm về phía trên và cách mặt đất 35 cm, mặt ngoài trước phuộc bánh trước bên trái có vết sạch bụi trong diện kích thước (3 x 1)cm, điểm cao nhất vết này là 38cm.
Mặt ngoài trước đầu dưới cánh bửng bên trái có vết sạch bụi trong diện kích thước (13 x 8)cm, điểm thấp nhất vết này cách mặt đất là 23cm, điểm cao nhất là 36cm.
Hệ thống phanh, hệ thống đèn và còi còn hoạt động bình thường.
* Khám nghiệm tử thi Bùi Thị B:
Tử thi nữ, chiều dài tử thi 1,5m, thể trạng trung bình.
Tình trạng tử thi: Lạnh, co cứng, hai lỗ tai có máu, hai mắt nhắm, niêm mạc mắt trắng bệch, hai lỗ mũi có máu, miệng ngậm.
Vùng đỉnh bên trái cách 11cm về phía trên dái tai trái có một vết bầm tụ máu và xây xát da kích thước (10 x 7)cm, ấn mềm lõm vào trong.
Mặt ngoài khuỷu tay trái có vùng xây xát da kích thước (4 x 1)cm.
Mặt ngoài cẳng chân trái, cách 20cm về phía trên gót chân trái có một vết thương hình dích dắc nằm dọc, có chiều dài 9cm, được khâu nhiều mũi chỉ, ấn 1/3 giữa xương mác bên trái nghe kêu lạo xạo, xác định gãy xương mác bên trái.
* Tại Bản kết luận giám định số: 945/KLGĐ-PC09 ngày 02-10-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:
- Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô 76X2-0303 và nạn nhân Bùi Thị B là khu vực phía Đông Bắc dấu vết trầy xước mặt đường V1, thuộc phần đường phía Tây.
- Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô 76X2-0303 và bà B là bên trái bánh trước xe mô tô 76X2-0303 (tại vị trí sạch bụi lốp) và mặt ngoài cẳng chân trái của nạn nhân Bùi Thị B (nạn nhân mặc quần dài).
- Sau khi va chạm, cẳng chân trái nạn nhân lần lượt va chạm với các bộ phận ở bên phải xe mô tô 76X2-0303 theo hướng từ trước ra sau gồm: Ốc siết dây thắng ở dưới phuộc trước bên trái, phuộc trước bên trái, đầu dưới cánh bửng bên trái tạo ra vết thương hình dích dắc và làm gãy xương mác cẳng chân trái. Sau khi va chạm với nạn nhân, xe mô tô 76X2-0303 bị ngã nghiên qua bên phải và trượt trên mặt đường theo hướng từ Tây Bắc sang Đông Nam tạo ra dấu vết trầy xước mặt đường V1.
- Không đủ yếu tố giám định tốc độ của xe mô tô 76X2-0303 khi xảy ra tai nạn.
* Bản kết luận giám định số: 92/GĐPY-PC09 ngày 10-9-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận nguyên nhân chết của bà Bùi Thị B như sau: Đa thương tích, đa chấn thương, chấn thương sọ não, rạn nứt xương hộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 28-01-2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Tấn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn V từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo.
Về bồi thường thiệt hại: Sau khi gây ra tai nạn, Nguyễn Tấn V cùng gia đình đề nghị với người đại diện hợp pháp của người bị hại về việc bồi thường nhưng người đại diện hợp pháp của người bị hại không nhận và đã làm đơn bãi nại về phần dân sự cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 cho chủ sở hữu hợp pháp bà Đoàn Thị Bích H1 là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn V và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người làm chứng là bà Hà Thị M và bà Bùi Thị Thu H2 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn V khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 05-9-2018, mặc dù bị cáo không có giấy phép lái xe hạng A1, nhưng do bận đi học nên bị cáo đã tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 điều khiển đến trường Đại học P để học. Khi đến đoạn đường trước số nhà 162 Q, thuộc Tổ 8, Phường L, thành phố Q, bị cáo thấy xe của bà Bùi Thị Thu H2 có kiểu dáng lạ nên quay mặt sang bên phải để nhìn theo xe của bà H2, đồng thời, điều khiển xe vượt qua xe của bà H2 mà không chú ý quan sát chướng ngại vật ở phía trước, khi bị cáo quay mặt về phía trước thì phát hiện thấy bà Bùi Thị B đang đi bộ qua đường, nhưng do khoảng cách giữa xe của bị cáo đang điều khiển và bà B gần, bị cáo không xử lý kịp nên xe mô tô của bị cáo đang điều khiển tông vào bà B, làm bà B bị ngã ra đường, bị chấn thương sọ não và chết vào ngày 06-9-2018.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Tấn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và lời khai của những người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Ngày 05-9-2018, bị cáo Nguyễn Tấn V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 tham gia giao thông nhưng không chú ý quan sát chướng ngại vật phía trước khi vượt xe, không giảm tốc độ để nhường đường cho người đi bộ qua đường nên đã gây ra tai nạn, làm chết bà Bùi Thị B. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 14, khoản 4 Điều 11 của Luật giao thông đường bộ, điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26-5-2016 của Chính phủ. Ngoài ra, tại thời điểm bị cáo Nguyễn Tấn V điều khiển xe mô tô gây ra tai nạn thì bị cáo chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh trên 50cm3 tham gia giao thông là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 58, điểm a khoản 2 Điều 59 của Luật giao thông đường bộ. Đối với hành vi của bà Bùi Thị B đi bộ qua đường nhưng không đi ở nơi có vạch kẻ dành cho người đi bộ là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn là do bị cáo Nguyễn Tấn V vượt xe nhưng không chú ý quan sát chướng ngại vật phía trước gây ra nên đây hoàn toàn do lỗi của bị cáo Nguyễn Tấn V.
Bị cáo Nguyễn Tấn V là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng bị cáo đã không tuân thủ đúng quy định của pháp luật khi tham gia giao thông. Ngày 05-9-2018, mặc dù bị cáo chưa có giấy phép lái xe hợp lệ nhưng vẫn điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh trên 50cm3 tham gia giao thông, gây ra tai nạn, làm chết 01 người. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Tấn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng nên cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trong việc chấp hành pháp luật, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại nhưng gia đình người bị hại không nhận bồi thường và đã có đơn bãi nại về phần dân sự cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Do bị cáo Nguyễn Tấn V có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo có khả năng tự cải tạo. Ngoài ra, hiện nay bị cáo V đang là sinh viên tại Trường Đại học P. Do đó, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục học tập, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, chỉ cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Đối với bà Đoàn Thị T: Mặc dù xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303 là của chị Đoàn Thị Bích H1 và chị H1 đã giao cho bà T mượn để sử dụng. Tuy nhiên, bà T hoàn toàn không biết việc Nguyễn Tấn V lấy xe mô tô nêu trên tham gia giao thông nên không có cơ sở để xử lý hình sự đối với bà Đoàn Thị T về hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 264 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về bồi thường thiệt hại: Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo Nguyễn Tấn V cùng gia đình thường xuyên đến thăm hỏi gia đình người bị hại, đề nghị với người đại diện hợp pháp của người bị hại về việc bồi thường nhưng người đại diện hợp pháp của người bị hại cho rằng sự việc xảy ra là ngoài ý muốn, gia đình bị cáo V khó khăn về kinh tế nên không nhận bồi thường và đã làm đơn bãi nại về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303: Trong quá trình điều tra xác định bà Đoàn Thị Bích H1 là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 76X2-0303. Năm 2013 bà H1 cho chị ruột là bà Đoàn Thị T mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 05-9-2018 Nguyễn Tấn V tự ý lấy xe mô tô nêu trên sử dụng bà T và bà H1 không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại xe mô tô trên cho bà H1 là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn V 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Tấn V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Tấn V phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Tấn V, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND Tp. Quảng Ngãi; - Công an Tp. Quảng Ngãi; - Chi Cục THADS Tp. Quảng Ngãi; - UBND xã T, huyện S; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Phong |